Tản Mạn Đời Linh Mục

Dưới con mắt người đời, người ta thường nhìn nhận và đánh giá sự thành công và thất bại của một con người ở chỗ làm được điều này hay điều nọ, hưởng thụ cuộc sống được thế này hay thế kia, sở hữu được nhiều hay ít của cải…

Ở góc nhìn này, có lẽ cuộc đời của Giêsu chất đầy những thất bại ê chề, thậm chí thất bại te tua và tan nát, bởi Giêsu chẳng mua sắm làm của riêng cho mình, chẳng sở hữu vật này vật nọ, chẳng tiện nghi xa hoa…

Nhưng với hắn, hắn đã chọn bước theo Giêsu trong ơn gọi Thừa Sai Đức Tin như là lẽ sống đời linh mục của hắn, có lẽ tiêu chuẩn dường như khác hẳn với suy nghĩ của nhiều người, bởi tiêu chuẩn của Giêsu thì dường như trái ngược hẳn với tiêu chuẩn đánh giá của người khác.

Giêsu chỉ thực hiện một điều duy nhất khi đi vào cuộc đời này là thi hành ý muốn của Cha. Và nếu nhìn ở góc độ này, thì cuộc đời Giêsu đã thành công, không những thành công mà phải là đại thành công, vì đã đem ơn cứu độ đến cho nhân loại.

Dâng hiến cả đời mình chỉ để thi hành ý muốn của Cha, phải chăng đó chính là sự hiến thánh để trở nên tư tế đích thực. Và phải chăng đó chính là hy lễ tình yêu, và đó mới chính là điều làm nên phẩm giá của chức tư tế Tân ước, là điều làm nên ơn cứu độ.

Nếu Giêsu đã dâng hiến bản thân để phục tùng ý Cha đến nỗi chấp nhận những chát chúa thương đau của cuộc đời, thậm chí cả cái chết trên thập giá, để hoàn thành sứ mạng làm người của mình, thì làm sao hắn có thể có một chọn lựa khác với chọn lựa của Thầy mình.

Hắn chọn sống cho ý Chúa, ắt hẳn đó không phải là những lời sáo rỗng, vô hồn, nhưng bao hàm một sự chọn lựa, và sự chọn lựa ấy dẫn đưa hắn tới cuộc đời hy sinh, bỏ mình, khổ đau và thánh giá.

Khát vọng đốt cháy đời mình qua nỗi đam mê bước theo Giêsu để hoạ lại con đường Giêsu đã bước, đi lại con đường Giêsu đã đi: đó là con đường đi đến với những con người đã rời xa Giáo hội, rời xa Thiên Chúa.

Có lẽ, đó là khát vọng chính đáng và đòi hỏi tất yếu của đời môn đệ nơi hắn.

Quả thật, bước ra khỏi chính mình, để đi đến với tha nhân và đưa về cùng Chúa những người đang gặp khó khăn trong đức tin là con đường tự hạ dẫn đến đỉnh đồi Canvê, để hắn nói riêng và các linh mục Thừa Sai Đức Tin nói chung hiến tế chính mình làm lễ vật hy sinh dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày.

“Đến với các chiên lạc nhà Israel” là con đường của Giêsu, con đường của Người Tôi Tớ Giavê, con đường thánh hiến chính mình làm hy lễ đền tội cho bản thân và cho dân, cũng là con đường của riêng hắn.

Đưa về những con người đã rời xa đức tin là con đường mà hắn phải đi, con đường của Con Chiên bị đem đi sát tế, để trở thành Con Chiên xóa tội trần gian.

Vì thế, “đến với chiên lạc nhà Israel” luôn luôn phải là con đường hắn phải chọn lựa để đi. Đó là con đường khiêm cung tự hạ, xóa bỏ mình để trở thành người phục vụ và hiến mạng sống vì người khác.

“Đến với chiên lạc nhà Israel” là con đường tất yếu mà hắn phải đi để đến được Núi Sọ và bàn thờ.

Một con đường chẳng dễ dàng để bước đi; một sự lựa chọn chẳng nhẹ nhàng cho cuộc đời, nhưng đó lại là ý nghĩa đời linh mục của hắn, bởi vì qua đó, hằng ngày hắn có thể tái diễn mầu nhiệm thánh giá cứu độ cuộc đời của Giêsu.

(Tổng hợp)

Posted in Uncategorized | 1 Comment

Vẩn Vơ

Em!
Hôm nay tôi đến tiễn em bước qua cái giới hạn mà mọi người, dù muốn hay không, đều phải đi qua. Em ra đi đúng vào ngày cuối cùng của tháng 11, tháng được dành cách đặc biệt để hướng đến những người đã ra đi trước.

Thật tiếc cho em biết chừng nào, vì em sớm bước qua cái giới hạn của kiếp nhân sinh!

Thật tiếc cho em biết chừng nào, vì vẫn còn quá nhiều “duyên nợ” của em đang dang dở trong cuộc trần.

Thật tiếc cho em vì biết bao “hoài bão” còn bỏ ngõ và chắc chắn, những “hoài bão” đó sẽ cùng em tao ngộ ở chốn thị phi và sẽ vĩnh viễn dang dở như sự dang dở của em nơi dương gian, bởi không ai có thể thay thế em để hoàn thành cuộc đời em.

Mới hôm qua em còn mải mê với những tính toán, thì hôm nay em cũng đang mê mải, nhưng lại mải mê với cõi riêng của chỉ mình em, đơn độc.

Mới hôm qua thôi, em còn mải mê buông mình trong vòng xoáy của cuộc đời, với những tham vọng, hoài mong, thậm chí là những bon chen của kiếp người, hôm nay, em nằm yên bất động trước những ánh mắt xót xa của những người xung quanh. Tôi cầu mong cho em được bình an, bởi khi còn sống, em có quá nhiều âm mưu và điều này khiến em chẳng lúc nào được bình an. Tôi cầu mong cho em được bình an, bởi sự nghi ngờ tất cả luôn ở trong em, làm cho tâm hồn em luôn bất an.

Mới hôm qua em vẫn đang say sưa với những bon chen, những mưu toan để xếp đặt cho việc này việc nọ, vậy mà hôm nay, khi nắm tay em để nói lời tiễn biệt, tôi cảm nhận như có một luồng điện chạy dọc toàn thân, bởi sự băng giá và lạnh lùng của thân xác em! Tôi cảm nhận được cả sự lạnh lùng cuả một thân xác bất động khi những dòng luân chuyển của sự sống không còn lưu thông trong cơ thể của em. Tôi nghĩ, giờ đây, em cần đến lòng thương xót, bởi em luôn lý luận để giành phần chiến thắng, nên trái tim thiếu lòng thương xót.

Rồi đây, em sẽ được chôn vùi và yên nghỉ trong lòng đất.
Rồi đây, thân xác em cũng sẽ tan rữa vào lòng đất.
Bộ óc thông minh kia, rồi cũng sẽ mục nát trong lòng đất.
Em có thể cứng đầu với người khác, nhưng không thể chống chọi với lòng đất.
Một khi đã vào lòng đất, em nằm yên chờ ngày tan rữa.

Những giá trị mà em dành trọn sức lực của tuổi trẻ, thậm chí sẵn sàng dẫm đạp lên người khác để theo đuổi là gì?

Những đam mê mà em quyết tâm dành những giây phút trên dương gian để theo đuổi có ý nghĩa gì với em, khi em đã phải gác qua một bên để bước theo tiếng gọi số phận của đời người?

Đâu là ý nghĩa đích thực của em trong cuộc đời khi em cứ mãi chạy đua với những giá trị vật chất, một khi em không còn hiện diện trên cõi dương gian này?

Bạn bè em không nhiều. Có lẽ, em đã quá tính toán kỹ lưỡng, nên có ít bạn bè. Hôm nay họ cũng đến tiễn đưa, nhưng ẩn khuất đâu đó, dường như họ đến để nói với những người đang cùng sống với họ, chứ không phải cho em. Những giọt lệ đã trào ra nơi khoé mắt họ, nhưng có lẽ họ dành cho những người thân thuộc của em.

Tất cả giờ đây chỉ là con số không vô nghĩa!

Nhìn vào em, tôi chợt nghĩ đến bài học cho bản thân.

Sống trong cuộc đời này, có cần chăng, một chút trống rỗng để đầu óc bớt căng thẳng?
Có cần chăng, một chút đơn sơ để bớt đi sự kình địch, ganh ghét?
Có cần chăng, một chút yếu để còn thấy rằng, mình cần đến người khác và để bớt cạnh tranh?
Có cần chăng, một chút quan tâm để thấy rằng, tình người vẫn là thứ quan trọng và vững bền hơn cả?

 

Tham Khảo:
Nguyễn Tầm Thường, Những Trang Nhật Ký Của Một Linh Mục, 2001.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bâng khuâng … chiều Chúa Nhật

195-hoVậy là hắn đã đến ở một vùng xa lạ, trên mặt địa cầu. Một vị trí thật xa nhưng cũng thật gần. Rất xa trong ký ức tuổi thơ, nhưng lại rất gần gũi trong cảnh vật thiên nhiên.
Giờ đây, tất cả đều như rất mới mẻ đối với hắn.
Chiều nay, tản bộ trong khu vườn ở một khung trời xa xôi, giữa không gian yên tĩnh của miền quê thanh bình, hắn nhận thấy như tất cả đều yên ả để hòa cái khung cảnh tuyệt diệu đó. Những áng mây nhẹ nhàng, trong vắt lãng đãng trôi giữa bầu trời mênh mông, vô định. Những tia nắng cuối ngày cũng không vội vã tan đi mà vẫn đọng lại đây đó nơi những khóm lá, những hàng cây. Khắp bốn bề vang vọng tiếng chim kêu, tiếng côn trùng rả rích.
Đẹp quá! Một không gian thật đẹp mà bấy lâu nay nằm gọn trong ký ức của hắn, hôm nay lại có dịp trào lên qua những cung bậc cảm xúc. Những tiếng chim muông cứ vang lên trong ánh nắng nhạt của buổi chiều tà, càng tô điểm cho khung cảnh thêm lung linh.
Đã từ lâu lắm, hắn không có dịp để rảo bước trong một khung cảnh, với những âm thanh và không gian như thế, và để tâm hồn có thể lãng đãng cùng những áng mây trong xanh, cao vút.
Đã lâu lắm rồi, hắn cứ phải quay cuồng với những con chữ, với những vòng xoáy lo toan của nghiệp … “mài đũng quần” trên ghế.
Hôm nay, hắn đã có thể tạm gác lại để bước vào một vùng trời mới, dẫu vẫn còn đó những ngổn ngang. Và hắn biết rằng, con đường phía trước không được trải sẵn nhung lụa, nhưng là một con đường gập ghềnh, sỏi đá. Dọc theo nẻo đường hắn chọn để bước đi đó, có lúc sẽ làm chân rướm máu, và chỉ kết thúc khi hắn đã đi đến cuối con đường.
Hôm nay, hắn đang bước đi trên con đường có đá sỏi đó. Nhưng tim hắn lại ấp ủ một mệnh lệnh lên đường (x. Mt 28,19), và hắn biết mình phải lao về phía trước, đến những chân trời bất tận (x. Cv 1,8), giữa những bộn bề và gập ghềnh có thể xảy đến cho đôi chân của hắn. Chỉ một điều hắn khắc ghi, là chứng nhân của Lời, thì phải đi đến tận cùng trái đất (x. Mc 16,15).
Hắn biết rằng hắn sẽ bước đi, với niềm vui duy nhất là biết mình được sai đi (x. Mc 16,15). An bình và thanh thản bởi lời hứa sẽ được ở cùng trên mọi nẻo đường (x. Mt 28,20).
Bất chợt, cơn mưa ập đến. Cơn mưa đầu tiên nơi xứ lạ kể từ khi hắn đặt chân đến. Cơn mưa nhẹ giữa những ngày của tháng Tám. Cơn mưa vội vã, không quá dai dẳng, nhưng có thể làm lòng hắn se thắt lại.
Bất giác, một thoáng kỷ niệm của những ngày vào tháng Tám năm xưa ập đến, tuôn trào trong nỗi nhớ da diết …
Hôm nay, hắn cũng đang đứng giữa cái se lạnh của đất trời.
Một mình giữa mênh mông, chông chênh và cô đơn, đơn độc và hiu quạnh, nhưng lòng hắn lại ấm lên bởi thao thức mệnh lệnh ấp ủ trong tim là phải lên đường …
Những cơn gió vút qua rồi biến mất …
Tháng 08/2012

Posted in Uncategorized | Leave a comment

“Đạo nào cũng tốt”?

525139_4182100584713_1692665501_n

Lão Tử đã đúc kết suy nghĩ của mình về Đạo qua câu “Đạo khả Đạo, phi thường Đạo”, tạm hiểu là nếu đã hiểu được Đạo thì đó không phải là Đạo. Đó là một kết luận đã được nghiền ngẫm, suy tư trải dài trong dòng lịch sử của Lão Giáo. Vậy câu nói “Đạo nào cũng tốt” có ý nghĩa gì không? Và có giá trị như thế nào?
Trong giới hạn của trang viết, chỉ xin trình bày một góc nhìn giữa muôn vàn góc nhìn về Đạo.
Trước hết, có thể thấy ngay rằng, khẳng định “Đạo nào cũng tốt” có phần đúng dưới cách nhìn bình dân. Bởi lẽ, theo những người này, họ nhận thấy rằng, cốt lõi của chính Đạo vẫn là dẫn dắt con người về điều thiện. Cũng theo họ, cái chính Đạo này nằm rải rác ở các tôn giáo. Cùng đích của Đạo vẫn là giúp con người đạt đến hạnh phúc giữa những thực tại của đời người. Họ có lý!
Tuy nhiên, nếu tìm hiểu khẳng định “Đạo nào cũng tốt” ở chiều kích học thuật, người ta thấy ngay rằng, đó là một khẳng định mang tính hàm hồ và thiếu cơ sở, bởi không phải tất cả các “Đạo” đều dạy con người làm điều thiện. Nó hàm hồ, bởi thứ nhất, họ đồng hóa quan niệm Đạo với các tôn giáo, tín ngưỡng, niềm tin… Thứ hai, luôn có sự khác biệt về giá trị giữa các tôn giáo, tín ngưỡng. Thứ ba, ngay trong khái niệm về tôn giáo, có tôn giáo tự nhiên và tôn giáo siêu nhiên. Tôn giáo tự nhiên là nỗ lực của con người trong khắc khoải, lần mò để kiếm tìm Siêu việt. trong khi đó, tôn giáo Siêu nhiên lại là một ân sủng nhưng không của Siêu việt ban tặng cho con người. Và đó chính là “Thần Vô Danh” của người Hy Lạp, “Brahman” của người Ấn Độ…
Người ta còn thấy sự hàm hồ trong khẳng định “Đạo nào cũng tốt” ở điểm, trong khi các tôn giáo khác thể hiện sự mò mẫm, dò tìm Chân lý qua những cố gắng của con người thì cũng có tôn giáo thể hiện sự tròn đầy qua việc mặc khải của chính Đấng là Chân Lý, là Thiện Hảo, là Hoàn Mỹ. Người ta tạm gọi nhóm tôn giáo mặc khải là tôn giáo độc thần trong tương quan với tôn giáo đa thần.
Dưới nhãn quan Kitô giáo, Đạo Kitô là Đạo mặc khải, có giá trị cứu độ theo cách thức độc nhất vô nhị. Bởi lẽ, nó được chính Con Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô đem đến từ trời cao. Hơn nữa, con Thiên Chúa không cứu độ theo cách thức đứng từ trên miệng giếng rồi thả dây xuống để kéo lên. Ngài cũng chẳng thả xuống giếng một chiếc thang để người ta tự mày mò tìm cách trèo lên. Thay vào đó, Ngài đã bước xuống phận người và ra tay cứu vớt để đưa lên khỏi vực thẳm của tăm tối. Trong khi Phật Thích Ca khẳng định mình chỉ là Ngón tay chỉ Mặt trăng và người ta không thể đến Mặt trăng khi dừng lại ở ngón tay, thì Đức Giêsu khẳng định rằng, chính Ngài “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”.
Truyền thống Kitô giáo đã tiếp nhận Chân lý này trong sự trân trọng những giá trị nơi các tôn giáo khác. Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu sống tinh thần của những người đã tin nhận và biết Đức Kitô. Ngài khuyên họ sống công chính vì đã nên công chính nhờ tin vào Đức Kitô. Điều này làm nên sự khác biệt so với những người không tin vào Đức Kitô. Ví dụ, một người đã làm quan thì phải mặc trang phục của một vị quan và cư xử đúng với tư cách của một vị quan, chứ không phải cứ mặc áo quan là sẽ thành quan.
Thánh Justinô đã công nhận giá trị tuyệt đối của Đạo Kitô, nhưng vẫn nhìn nhận những “Hạt Giống Ngôi Lời” nơi các tôn giáo. Irênê và một số Giáo phụ lại nhìn thấy dấu ấn hoạt động của Thần Khí nơi các tôn giáo. Jean Danielou thấy sự trỗi vượt của Kitô giáo khi so sánh giữa tự nhiên và siêu nhiên. Nếu các tôn giáo tự nhiên nỗ lực để kiếm tìm (đôi khi trong vô vọng) Siêu việt thì Kitô giáo là một tôn giáo siêu nhiên đến gặp tự nhiên và làm biến đổi, siêu thăng tự nhiên (‘Ân sủng không phá đổ nhưng kiện toàn tự nhiên’ Thánh Tôma). Trong khi đó, Henri de Lubac cho rằng, Kitô giáo là một trục chính để dẫn đưa con người đến ơn cứu độ, trong khi các tôn giáo khác là những trục phụ. Con người không thể đạt đến cùng đích của mình nếu không tìm về trục chính. Bên cạnh đó, một tác giả cùng thời với ông lại xem Kitô giáo như điểm đồng quy, trong đó Đức Kitô là trung tâm. Các tôn giáo khác, dù có những “con đường” hay “quỹ đạo” nào, cũng sẽ phải tìm đến và hội tụ ở điểm đồng quy là Đức Giêsu Kitô, bởi Ngài là trung tâm điểm của ơn Cứu Độ. Riêng Công đồng Vatican II, trong khi nhìn nhận những giá trị của các tôn giáo, vẫn một mực khẳng định tính chất vô song của Kitô giáo. Trong chiều hướng đối thoại đại kết và đối thoại liên tôn, công đồng đã đề cập đến những giá trị tốt đẹp của các tôn giáo nhưng luôn khẳng định tính chất tuyệt đối của Kitô giáo.
Trở lại vấn đề câu khẳng định trên, người ta thấy có những giá trị nhất định của nó, nhưng đồng thời, người ta cũng thấy sự hàm hồ, đồng hóa các tôn giáo với nhau, trong khi có sự khác biệt rõ ràng giữa các tôn giáo.
Đối với tín hữu Kitô, Đạo mặc khải là Đạo có giá trị tuyệt đối, bởi nó rõ ràng và được chính Đấng là Tuyệt Đối đem đến từ trời. Theo đó người ta sẽ không còn lo sợ lạc lối hay phải lần mò kiếm tìm.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Ngọn nến giữa đời

556504_592727067419445_143334805_n “ … Ba ngọn nến lung linh, thắp sáng một gia đình” (Ngọc Lễ – Phương Thảo, Ba Ngọn Nến Lung Linh)
Tính lung linh diệu kỳ của ngọn nến đã từng là nguồn cảm hứng cho những người có tâm hồn nghệ sĩ. Có phải nó thi vị do ánh sáng mang lại hay chỉ đơn thuần đó chỉ là những tưởng tượng suông? Trong khuôn khổ trang viết nầy, xin đề cập vấn đề dưới góc nhìn của một Tu sinh đang chập chững đặt những bước chân đầu đời trong hành trình dâng hiến nhằm thực hiện lý tưởng “tỏa sáng” giữa lòng đời. Continue reading

Posted in Uncategorized | Leave a comment

HỒN NHIÊN THEO LÃO GIÁO

562802_196921083755618_100003131836560_304649_2024565583_n

Xuất hiện trong dòng chảy nhộn nhịp nơi phương trời Á Đông, rồi biến mất hun hút vào cõi tịch lặng của rừng sâu và không để lại dấu vết, Lão Tử như một vì sao sáng chói, tiêu biểu cho tinh thần vô vi thanh tĩnh, hòa tan trong thiên nhiên, vũ trụ của người dân gắn bó với nền nông nghiệp lúa nước. chỉ vỏn vẹn khoảng 5.000 từ trong cuốn Đạo Đức Kinh, Lão Tử đã để lại cho hậu thế nhiều giá trị cao quý, mà đến nay (tức hơn 2.000 năm), nó vẫn còn lưu lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của những người Á Đông. Một trong những giá trị lớn của Lão giáo là sống hồn nhiên, sống vô vi.

Có lẽ, cốt lõi huyền nhiệm của lối sống hồn nhiên ấy được thể hiện qua chữ VÔ. Đó là “vô ngôn”, “vô thanh”, “vô phân biệt”, “vô danh”, “vô kỷ”, …

Nếu đem so sánh với Nho giáo “hữu vi xuất thế”, thì Lão giáo lại chủ trương một lối sống “vô vi xuất thế”, để có được, cảm được sự lung linh đến kỳ diệu của làn khói trắng trong sớm mai, của “đóa huệ” phất phơ ngoài đồng (nhưng lại cao trọng hơn áo choàng của Salomon gấp bội); hay có thể cảm thấu, hòa điệu cùng dòng chảy biến dịch sống động nhưng lặng thầm và giản dị của cuộc sống, của thiên nhiên, của vũ trụ.

Quả đúng như sự tôn phong của người đời dành cho Lão Tử chức “Thái Thượng Lão Quân”, bởi một tinh thần trong sáng, thánh thiện, mà ta có thể cảm cảm được nơi gió trăng, mưa nắng, cây lá, núi sông, hay nơi một bé thơ. Nơi ấy, Lão giáo cho thấy chẳng có ôtn ti, chẳng gắng gỗ, chẳng tác ý, “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhân bất nhân, dĩ ách tính vi sô cẩu” (Đạo Đức Kinh 2).

Lối sống hồn nhiên của Lão giáo còn là lối sống vô vi thanh tĩnh để tìm an vui, hạnh phúc cho đời, cho người. Đó là lối sống đơn sơ, giản dị, thấp kém, thua thiệt, … “Thánh nhân xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo” (ĐĐK 2). Làm mà xem như là không làm, làm tất cả mà cũng không làm gì cả. Sống giữa cuộc đời bon chen mà “vô vi vô sự”, làm mọi sự giữa đời bằng cái tâm hồn nhiên của trẻ thơ, “Đạo thường vô vi nhi vô bất vi” (ĐĐK 37).

Sống hồn nhiên theo Lão giáo, thì cứ như kẻ ngu, kẻ khờ, kẻ thua, kẻ thấp, chẳng đấu tranh, chẳng lưu danh, chẳng học hành (Tuyệt thánh, khí trí, ĐĐK 19), chẳng bon chen, chẳng thăng tiến. điều này hoàn toàn trái ngược với người đời bình thường, sống là phải “lưu danh thiên cổ”.
Lão giáo chủ trương “Thiện thượng nhược thủy” (ĐĐK 2), “Vi thiên hạ khê” (ĐĐK 28), “Vị thiên hạ cốc” (ĐĐK 2), “Bất tranh nhi thiện thắng” (ĐĐK 73). Lối sống này giống như lối sống của trẻ con, như nông dân, như khe nước, như bóng đêm, chẳng giỏi giang, chẳng hơn thua, chẳng lanh lợi tinh khôn, chẳng khéo léo mà chỉ là kẻ ngố, kẻ ngáo, kẻ độn, ngu ngơ, khờ khạo giữa cuộc đời khôn ngoan lanh lợi. Bởi lẽ, ông đã cảm nghiệm được cách thâm sâu rằng “Tự căng giả, bất trường; bất tự căng, cố trường” (ĐĐK 22). Vì thế, để có lối sống hồn nhiên, thì càng ngày phải trở nên vô vi, vô chấp. bởi càng hữu vi, càng thất bại, càng nắm giữ, càng đánh mất (Vi giả bại chi, chấp giả thất chi, ĐĐK 65).
Một lối sống hồn nhiên theo Lão giáo cũng còn là lối sống “Tuyệt thánh, trí khí” (ĐĐK 19), “Tuyệt học vô ưu” (ĐĐK 20), và trở về “Vi thiên hạ cốc thường đức nãi túc, phục quy ư phác” (ĐĐK 28). Bởi lẽ, “Tri giả bất bác, bác giả bất tri, thánh nhân bất tích” (ĐĐK 81).
Bàng bạc khắp 81 chương Đạo Đức Kinh của Lão Tử là một tinh thần vô vi, phóng khoáng, hồn nhiên, buông xuôi tất cả, dẹp bỏ tất cả để huyền đồng với Đạo; im lặng tuyệt đối để hòa cùng Đạo. sự im lặng tuyệt đối và trọn vẹn này không phải là “bất ngôn”, cũng chẳng phải là “Hy ngôn tự nhiên”, mà có lẽ nên hiểu theo sự hồn nhiên của Lão giáo là lòng không phân biệt, không quan trọng học hành, hiểu biết, trở nên như trẻ thơ, mộc mạc tự nhiên, không nhân nghĩa, không trách nhiệm, không đấu tranh, không căng thẳng; sống như khe nước, như hang sâu. Bởi lẽ, biển khôn khi thâu tóm hết mọi hang hóc, ngõ nhánh của các con sông, con suối là vì biển ở thấp hơn, sâu hơn.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

LỐI “SỐNG MỀM NHƯ NƯỚC” THEO LÃO GIÁO

537233_594588080566677_956889654_n

Lối “sống mềm như nước – Thượng thiện nhược thủy” theo Lão giáo thì cứ im lặng thăm thẳm nhưng mãnh liệt giữa đời thường. Thực ra, đó là cách sống chẳng hơn thua, tranh giành với ai điều gì (theo cách giải thích của nhiều người). Lão Tử thì sống mà chẳng cần lên gân, chẳng gắng gổ, chẳng căng thẳng với ai điều gì.
Người “sống mềm như nước” còn chủ trương “lạt mềm buộc chặt”, như nước mềm có thể thẩm thấu và làm tan biến những gì là khô khan, cằn cỗi nơi những thửa đất cứng cỏi. Có lẽ, đây là một “ứng dụng” hay “biến thái” của chủ trương Lão giáo, trong khi ông lại chủ trương càng ngày càng vô vi, vô chấp, để rồi càng ngày càng “làm cái không làm”, quan tâm cái chẳng quan tâm.
Nếu đem so với lẽ thường, thì đây là một lối sống rất lạ kỳ, nếu không muốn nói là ngược đời, so với Nho giáo. Bởi vì, họ quý sự im lặng hơn nói năng; họ yêu chỗ thấp hèn hơn chỗ danh giá, họ quý giá sự đần độn, ngu muội hơn tinh khôn, lanh lợi; họ thiết tha trở nên lặng lẽ, ẩn tàng, thua thiệt, mềm yếu, kém cỏi hơn là ồn ào, náo nhiệt, ganh đua, hơn thiệt.
Ở một góc nhìn nào đó, lối sống “mềm như nước” của Lão Tử có vẻ rất gần với “lối sống” và “cách nhìn” của Thầy Giêsu trong Kitô giáo, khi rải rác khắp nơi trong Tin Mừng, người ta thấy một “lối sống”, “lối nhìn” của Thầy Giêsu cũng rất “vô vi”. Hình ảnh trong câu chuyện “Con cáo có hang, con chim có tổ, con người không có chỗ gối đầu …”, hay như “đóa huệ phất phơ ngoài đồng”, hay hình ảnh con chim sẻ…
Kitô hữu Á Đông, đặc biệt là trong bối cảnh văn hóa Việt Nam cụ thể hôm nay, cũng cần lắm một “cuộc huyền đồng với Đạo” để đào sâu hơn nữa những giá trị tinh túy của Tin Mừng, may ra cũng có thể “huyền đồng” giữa những giá trị của Lão giáo và Kitô giáo trong xã hội Việt Nam, nếu còn một chút gì đó tha thiết với đời, với đạo.

Posted in Uncategorized | Leave a comment