MAI LINH – Điểm hẹn của những tấm lòng


Có những con người, chỉ thoáng lướt qua trong đời, nhưng để lại những dấu ấn đẹp trong tim người khác.
Đó là nét đẹp của những con người mà hắn gặp gỡ trên bước đường sứ vụ, khi dám bước ra khỏi bản thân để có thể đi đến với những thân phận mang những thương đau của kiếp người. Đó là nét đẹp của sự cảm thông và chia sẻ để làm vơi đi những nỗi đau của số phận.
Những phận người, với muôn ngàn lý do khác nhau, đều hội tụ nơi đây, để có những ngày sống ý nghĩa cho đời mình. Nơi đây, có sự bình tâm, có những hối tiếc, nhưng cũng có cả những trăn trở và khắc khoải, và cũng từ nơi đây lại dấy lên những khát vọng của một đời người.

Sau những trải nghiệm mọi cung bậc thăng trầm của cuộc sống, tưởng chừng như tâm hồn đã hoàn toàn đóng băng, trái tim họ tưởng chứng như đã hoàn toàn nguội lạnh; Nhưng không, họ đã và đang thể hiện khát mong sống, dù chỉ là từng ngày, hay từng giờ; Và phải chăng, đó là cái đẹp làm sưởi ấm lòng người
Giữa muôn vàn cái đẹp người ta vẫn thấy đây đó trong dòng đời, có lẽ nét đẹp của lòng nhân ái là nét đẹp đáng được trân trọng và nâng niu hơn cả, bởi nó tô thắm thêm vẻ đẹp của tình người.
Và, nét đẹp của sự liên đới, yêu thương, san sẻ giữa những con người với nhau trong cuộc đời là nét đẹp bất biến, bởi đó là lúc người ta kéo khoảnh khắc vĩnh cửu về với hiện tại và làm cho khoảnh khắc hiện tại trở thành vĩnh cửu.

Advertisements
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đi Du Hí

Ngày 16 tháng …..
Đêm đầu tiên đặt chân đến Đà Lạt sau hơn một năm. Cảm giác đầu tiên mạnh mẽ nhất là cái giá lạnh của đất trời xâm nhập toàn thân, dù ta đã chọn giải pháp tản bộ dọc theo đường lên dốc Trần Phú để cơ thể ấm lên, và lâu lắm rồi ta đã không đi bộ khi bước ra phố. Dọc hai bên đường, hàng loạt khối nhà cao tầng mọc lên san sát, nhưng như vẫn phảng phất đâu đó một nét cổ kính đầy thơ mộng. Một sự huyền bí đến lung linh ập đến khi những cơn gió rít qua những hàng thông ven đường. Ghé quán café nằm khuất trong hẻm cùng một cô gái Đà Lạt để thưởng thức chút hương vị café của xứ sở sương mù, cũng là nơi chôn giấu nhiều kỷ niệm thời niên thiếu đầy mộng mơ của cô gái ấy. Café Thạch Đằng thật yên tĩnh. Tiết trời về đêm phải nói là khá lạnh, nhưng ta vẫn cảm thấy ấm cúng đến lạ thường. Không biết lòng ta ấm lên vì hương vị café hay vì tình người?

Ngày 17 tháng ….
Thung lũng tình yêu, huyền diệu quá đỗi. Bình yên, thanh thoát, nhẹ nhàng là những cảm giác ta tìm lại được sau khi ngồi gần hết một buổi chiều giữa thung lũng, giữa đại ngàn, uống café và nghe nhạc Trịnh.
Buổi tối, đi dạo trên những con phố Đà Lạt, vẫn là những cơn gió mang theo hơi lạnh phả vào người. Nhịp sống của những người dân ở đây có vẻ như chậm hơn so với ở vùng đất Sài Thành. Từng dòng xe cộ cứ chầm chậm lưu thông trên những con phố. Dường như, ta có cảm tưởng rằng, họ đang sở hữu một điều gì đó quý giá nhất trong hiện tại, nên cứ chậm rãi thưởng thức và không muốn nó mất đi. Món bún riêu nóng hổi giữa tiết trời se lạnh ở Ấp Ánh Sáng thật ngon. Những làn hơi nóng bốc lên, hòa quyện với hơi sương của đất trời, xộc vào mũi, tạo thành một nét quyến rũ đến diệu kỳ, tuyệt quá!
Chợt thấy, hạnh phúc thật bình dị, nhưng quá đỗi mong manh!

Ngày 18 tháng …
Đà Lạt những ngày mùa thu, những cơn mưa bất chợt, không vần vũ, không sấm chớp, chợt đổ ào xuống như trút nước rồi tan nhanh.
Ta chẳng còn ở tuổi thần tiên để mong được đắm mình trong những làn mưa, mặc cho sau đó sẽ bị ba má trách mắng, thậm chí đánh đòn. Ta cũng không còn ở thời mơ mộng để gửi những điều ước vào trong mưa, nhưng dường như, một cảm giác lẻ loi vẫn xâm chiếm tâm hồn mỗi khi mưa đến, dù đó chỉ là một cơn mưa giữa mùa thu.
Tình cờ, thấy trong xóm có một sân bóng chuyền, niềm đam mê trỗi dậy, thế là nhảy vào tham gia cho đến khi ngửa tay lên, ánh sáng không còn đủ để nhìn thấy lòng bàn tay mới chịu ra về.
Thèm một buổi hoàng hôn Liangbiang. Có lẽ, qua giới thiệu, hoàng hôn Liangbiang là lý do để ta bằng mọi giá tìm đến Đà Lạt lần này.

Ngày 19 tháng …
Hôm nay, thật đặc biệt khi được làm quen với một “gia đình” tại Đà Lạt. Không những thế, ta còn được trò chuyện thật chân tình, cởi mở và ta như có cảm giác rằng, gia đình ấy cũng rất chân tình khi trò chuyện, trao đổi với ta. Dường như chẳng có khoảng cách hay sự e dè thường có ngay ở lần gặp gỡ đầu tiên. Có lẽ đối với ta, đó là một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của đời người, và nó sẽ trở thành bất tử, khi người ta biết vượt lên những khác biệt để làm ấm lên tình người. Và qua sự gặp gỡ, trò chuyện, sự đồng cảm giữa những con người với nhau lại được tỏa sáng, để con người sẽ cảm thấy bớt đi phần cô đơn nơi sâu thẳm của mình đang khi hoàn tất sứ mạng làm người.
Buổi chiều, những cơn mưa không quá lớn để ướt sủng bờ vai nhưng lại cũng không nhỏ để cảm thấy cái lạnh tê tái khi băng băng chạy xe trên đường.
Cuối cùng, ta cũng đã chạm chân đến được với Liangbiang, vốn đã từng hứa với lòng rằng ta sẽ ngồi bất động ở đó đến 4 tiếng đồng hồ, vậy mà, ta đã không thể thực hiện được rồi. Tiếc quá!
Buổi tối, tranh thủ thưởng thức món “bánh căng” vỉa hè, vốn được cho là nét riêng của Đà Lạt, trong khi ngoài kia, dòng xe cộ vẫn lưu thông không ngừng nghỉ.
Yêu mất thôi, Đà Lạt ơi! Dường như ta đã khá nặng tình với Đà Lạt?

Ngày 20 tháng …
Một ngày nắng vàng đẹp quá, nhưng người đẹp Đà Lạt lại tìm lý do để đi mất, dù đã hứa là sẽ làm hướng dẫn viên du lịch miễn phí cho đến khi … ta chán Đà Lạt!?
Nhưng làm sao ta chán nỗi trước sức quyến rũ của Đà Lạt. Thôi thì đành chấp nhận sự dang dở như những dang dở khác, bởi trong cuộc đời có cái nào hoàn hảo đến tuyệt đối đâu!
Đi dạo một mình dọc bờ hồ Hồ Xuân Hương, vẫn là tiết trời se lạnh với những cơn gió nhẹ phảng phất vào lòng người. Đi dạo chán, ngồi một mình bên bờ hồ HXH để thả hồn vào những áng mây lơ lửng trên bầu trời, bỗng thấy lòng thênh thang quá. Đến đây, một câu triết lý nhà Phật: “Nhẫn một chút sóng yên biển lặng, lùi một bước trời rộng thênh thang” bỗng như văng vẳng và có lẽ, lúc này ta mới nghiệm ra hết ý nghĩa của nó.
Nắng vàng, trời đẹp, thèm một hoàng hôn Liangbiang quá đỗi, nhưng hôm nay lại không muốn đi Liangbiang một mình. Đành phải nợ Liang biang một hoàng hôn khác…
Bỗng thấy nhớ buổi tối “đặc sản bánh căng” vội vã bên vỉa hè Phan Đình Phùng quá đi!
Dường như ta đã nặng nợ với Đà Lạt mất rồi!

Ngày 21 tháng …
Tạm biệt Đà Lạt, tạm biệt khung trời bình yên, tạm biệt những ngày hè nghỉ ngơi tại Đà Lạt, ta lại phải trở lại những ngày vội vã, xuôi ngược giữa đời thường.
Tạm biệt những con người Đà Lạt và cô gái Đà Lạt, tạm gác lại tất cả, để chỉ mang theo những kỷ niệm khi trở lại cuộc sống đời thường mà ta không thể quên.
Những thứ đó, như một phần hành trang không thể thiếu, ta sẽ mang theo trong cuộc đời.
Xin cám ơn tất cả!

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bông Giấy

4
Cuộc sống của cây bông giấy vốn dĩ không hoàn hảo, và phần lớn thời gian cây bông giấy sống trong điều kiện khắc nghiệt. Nhưng, hoàn cảnh chỉ là phép thử để cây bông giấy thể hiện giá trị của mình.
Để có thể nở ra những bông giấy tuơi đẹp, người ta để cho nó phải sống trong một thời gian dài không có sự tiếp xúc với nước để cây có thể quang hợp, và còn phải chịu sự cắt tỉa của người làm vườn.
Cây bông giấy có thể bỏ cuộc, hoặc chiến thắng sự khắc nghiệt này hay không lại phụ thuộc vào việc nó nhìn vào thực tại của bản thân bằng con mắt như thế nào.
Nếu chọn lựa thù hận, oán ghét người cắt tỉa, không tưới nước, thì người làm vườn sẽ không đau đớn mà chính cây bông giấy mới là kẻ bị tổn thương, và có nguy cơ chết héo rũ.
Vì thế, cây bông giấy luôn ghi nhớ là không hận thù người cắt tỉa, cũng chẳng ghen tị với những loài cây xung quanh, mặc cho những biến đổi vần xoay của số phận.
Nó chỉ biết phải luôn có một chút nhẫn nại, một chút nỗ lực và không bao giờ nản lòng trước những trớ trêu của cuộc đời.
Khi những điều khắc nghiệt ập đến, nó chỉ đơn giản đón nhận và biến đổi những trớ trêu đó thành những gì tinh tuý nhất để một ngày kia lại dâng tặng cho đời những bông hoa giấy tuyệt đẹp.
Nó luôn đau đáu một khát vọng nở hoa, để tô đẹp cuộc đời.
Nó cũng chẳng thế nghĩ được rằng, bản thân nó lại có thể toả sáng theo một cách không ngờ.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Ghi Chép Vụn Vặt

Giáng sinh năm nay, mình có hai tuần nghỉ phép.
Như một sự tình cờ, mình đến một vùng đất có tên Nadipalli, thuộc bang Andhra Pradesh, cách Bangalore khoảng 700km. Vì không có chủ định trước, nên việc đặt vé cho chuyến đi quả là gian nan hơn những gì mong đợi. Vào dịp cuối năm, người ta đua nhau đi nghỉ Noel và Tết dương lịch, và ai cũng muốn tìm cho được một chỗ để về sum họp với gia đình trong những thời khắc được cho là quan trọng bậc nhất trong năm. Để có được chiếc vé xe đò hay xe lửa, người ta phải đăng ký trước đó ba tháng. Có khi, người ta cũng đặt trước đó 3-4 tháng, nhưng số lượng người đặt quá đông, thì chỉ còn cách trông chờ vào …may rủi. Nhưng cuối cùng, qua “mai mối”, mình cũng có được một chỗ ngồi ở hàng ghế sau cùng, và tất nhiên phải trả với giá cao hơn bình thường khoảng gấp ba lần.

Nadipalli
Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt mình khi đến vùng đất chỉ cách sân bay nội địa nổi tiếng Vijaywada khoảng 100km và thị trấn sầm uất Eluru 18km là dường như khu vực này thuộc một thế giới hoàn toàn khác biệt. Khái niệm về internet quả là quá xa lạ với người dân ở đây. Cái sim điện thoại, thường ngày mình vẫn dùng để liên lạc, thì đến đây, không có một chút gì để gọi là tín hiệu. Hai “thế giới” dường như khác biệt nhau chỉ trong khoảng cách chưa đến 20km. Đối với các linh mục đang làm việc mục vụ ở vùng Nadipalli này, mỗi khi muốn sử dụng internet, họ phải dùng đến một loại sim đặc biệt mới có thể vào internet bằng dịch vụ 2G, chậm chạp và đắt đỏ, nhưng như thế là đã khá lắm rồi. Internet ở vùng này là điều rất xa xỉ, nên chẳng mấy người sử dụng. Và điều gây bỡ ngỡ với mình hơn cả là, tuy đang vào mùa nghỉ lễ, nhưng điện sinh hoạt vẫn bị cúp đều đặn một tuần buổi sáng và một tuần buổi chiều, chưa kể đến việc thường xuyên mất điện đột ngột. Và mỗi ngày, trừ khoảng thời gian chính thức cúp điện đi, thì vẫn có không dưới 5 lần cúp điện đột xuất.
Từ thị trấn Eluru đến Nadipalli chỉ cách nhau 18km, mình có cảm giác như đang bước vào một thế giới nào đó khác hẳn với một Eluru náo nhiệt. Một ý nghĩ vụt thoáng qua, mình đang trải nghiệm một chút “nghèo” của người dân vùng đất Nadipalli thuộc xứ Ấn.
Đang ở một nơi có thể dễ dàng liên lạc qua những phương tiện máy móc và kỹ thuật hiện đại, bỗng dưng đến một nơi còn xa lạ với khái niệm này, mình như thấy có điều gì đó hụt hẫng và chỉ muốn quay trở về chỗ cũ ngay thôi. Đến lúc này, dường như mình đang lệ thuộc vào vòng xoáy của những thiết bị chăng? Những thiết bị thông tin đại chúng, đúng theo nghĩa của nó, đáng lý phải làm cho mọi người trên thế giới này thêm gần gũi hơn, mọi trái tim có thể xích lại gần nhau hơn và giúp cho tâm hồn có thể thênh thang hơn, nhưng thực tế lại không hẳn như thế. Mình tự nhủ, hay bởi mình đã bị cuốn vào thế giới thiết bị và thông tin để rồi phải lệ thuộc quá nhiều vào chúng? Thế nhưng, khi tìm hiểu, vùng Nadipalli này vẫn còn “khấm khá” hơn rất nhiều so với những vùng khác.
Về mặt lý thuyết, người ta cho rằng vấn đề giai cấp không còn trong xã hội, nhưng thực tế trong tiềm thức và cách thức ứng xử của người dân, lý tưởng này còn quá xa vời. Năm 1957, hiến pháp nước Ấn Độ đã chính thức xóa bỏ hệ thống đẳng cấp trong xã hội, nhưng dường như người ta chỉ có thể xóa được trên hiến pháp chứ chưa thể xóa được trong nếp nghĩ của con người. Tất nhiên, phần thiệt thòi luôn thuộc về những kẻ nghèo hèn và bần cùng trong xã hội, mà thành phần này lại chiếm rất đông ở Ấn độ. Vì thế, có những người nghèo đã tự nguyện “tin” vào Đức Kitô như một cứu cánh sau cùng cho cái nghèo của họ. Một số người chọn theo Kitô giáo vì nhiều lý do, nhưng lý do quan trọng hơn, đó là căn tính Kitô mới mẻ giúp họ sống cái cảm nghiệm phẩm giá được tôn trọng và được làm “người” hơn. Việc có những người Hindu từ bỏ tôn giáo của họ để tin theo Kitô giáo cũng là một trong những nguyên nhân gây xung đột sắc tộc và tôn giáo tại quốc gia Ấn Độ. Tuy nhiên, dù đã đến và hiện diện ở Ấn độ ngót 2000 năm, Kitô giáo vẫn nằm ở mức trên dưới 02% dân số toàn nước Ấn.
Đoạn đường từ thị trấn Eluru đến Nadipalli có thể được xem như vùng “đất lành chim đậu”, bởi có khoảng hơn 35 hội dòng tọa lạc hoặc đặt chi nhánh tại đây. Rất nhiều trường đại học, cao đẳng công giáo và chủng viện cũng được mở ở khu vực này. Dầu vậy, Công giáo vẫn bị xem là thứ tôn giáo ngoại lai với dân Ấn.

Điều có thể nói đến ở đây, là dân chúng rất nghèo. Ít nhất, có hơn 85% dân chúng thuộc thành phần nghèo. Nhà ở, chủ yếu làm bằng mái lá, tường đất và rất thấp, có lẽ để tránh cái nắng lên tới 46oC nóng như lửa đốt vào mùa hè. Họ sống bằng nghề trồng lúa và nông sản. Đất đai ở Ấn độ rất rộng, nhưng đất thì không sinh, còn người thì ngày càng sinh sôi nảy nở thêm. Số lượng người tăng lên thì diện tích đất canh tác sẽ giảm xuống và thu nhập cũng giảm, vì thế mà nghèo. Cái nghèo không buông tha người ở vùng đất Nadipalli này. Dù có thể nói, dân chúng ở vùng này rất nghèo, nghèo đến tận cùng trong tất cả những lầm than và vất vả thường ngày, thì nơi những con người này vẫn không ngừng gửi đến cho mọi người những sứ điệp thiêng liêng rất cao quý. Bởi nơi những tâm hồn này, cái ý thức hướng về Trời cao và hé mở cho thực tại của Trời cao soi chiếu vào rất mạnh mẽ. Cái ý thức ấy hiện diện rõ rệt nơi những con người sống ở vùng này. Cái ý thức ấy, nhiều người trong thời đại hôm nay đã đánh mất nó, để rồi cũng mất luôn những giá trị cao quý nhất của tâm hồn, và mất luôn cả những gì giúp tâm hồn thênh thang, nâng tâm hồn lên cao để yêu mênh mông vô tận.

Giáo xứ Nadipalli
Nơi mình đến là một giáo xứ đã được hình thành cách nay hơn 25 năm, mang tên “Holy Trinity Church” do các linh mục Thừa Sai Đức Tin của Tỉnh Dòng Ấn Độ lập nên. Có khoảng 600 gia đình công giáo sống rải rác khắp trong vòng bán kính khoảng 25 km. Vì thế, ngoài nhà thờ giáo xứ, còn có thêm 13 nhà nguyện nhỏ giữa mỗi làng, mỗi nhà nguyện rộng khoảng 60 đến 80 m2, chứa được tối đa gần 100 người. Mỗi tuần, các linh mục sẽ thay phiên nhau đến các nhà nguyện này để dâng thánh lễ cho giáo dân, bởi họ không có phương tiện để đến nhà thờ giáo xứ. Do đó, nhà thờ giáo xứ, tuy chỉ chứa được tối đa khoảng hơn 250 người, nghiễm nhiên trở thành nhà thờ chính, mà dân chúng gọi là “nhà thờ chính tòa”. Có 3 dịp trọng đại trong năm, giáo dân khắp nơi sẽ quy tụ về “đại giáo đường” để tham dự thánh lễ. Đó là lễ Phục sinh, Giáng sinh và Năm mới. Mình đến vào dịp cuối năm, nên có dịp tham dự 2 đại lễ: Giáng sinh và Năm mới tại “nhà thờ chính tòa”.

Lễ Giáng sinh
Lễ Giáng sinh được ấn định cử hành lúc 22h30, nhưng cuối cùng, phải đợi đến 23h50 mới được cử hành vì giáo dân đến trễ. Tuy là dịp đại lễ tại “nhà thờ chính tòa”, giáo dân tham dự cũng chỉ khoảng hơn 200 người, bởi “nhà thờ chính tòa” rất hoành tráng theo kiến trúc tây Phương thì ở đấy, nhưng dân chúng chỉ muốn chen chúc nhau ở chỗ khác bình dị và có vẻ tầm thường hơn, nhưng lại gần gũi và thân mật với họ hơn. Đó là ngôi nhà nguyện đơn sơ ở giữa ngôi làng nhỏ bé và nghèo nàn của họ. Họ muốn cảm nghiệm sự liên đới với một Thiên Chúa gần gũi, cận kề với họ ngay trong đời thường, chứ không chỉ vào những dịp lễ hội nguy nga.

Mình không đề cao cái nghèo, cũng không cổ xúy nghèo, nhưng dường như, giữa tất cả những gì quá đỗi bình dị ấy, có một cái gì đó nổi lên, và con người từ khắp các ngõ ngách của ngôi làng tuôn đến, bởi họ cảm nhận một thứ ánh sáng ấm áp tỏa ra từ nơi ấy và từ nơi sâu thẳm tâm hồn họ, có lẽ vì lý do Trời và Đất ở trong họ một cách thân mật và gần gũi, dù họ không mấy ý thức về điều đó. Họ muốn tìm thấy bí quyết của niềm an vui chân thực giữa những gì thân cận với họ. Có lẽ, trong nếp nghĩ đã ăn sâu vào tiềm thức, họ không muốn hình thức phượng tự cách rầm rộ ở những ngôi thánh đường nguy nga, cao vút trong khi đời sống thường ngày lại quá nghèo nàn, tả tơi. Nếu có, mình nghĩ rằng, chắc họ muốn tìm thấy và lưu lại một chút dấu ấn nào đó thiêng liêng hơn trong tâm hồn. Với họ, có lẽ điều quan trọng hơn cả là sự ý thức về Đấng Tối Cao, và những cố gắng vượt lên bản thân để tìm giải thoát. Mình chợt nghĩ đến sự cần thiết nơi việc nhập thể của Đạo vào văn hóa dân tộc, đem đạo vào đời, hơn là chỉ chú trọng và dừng lại ở những con số người được rửa tội, dẫu những con số kia là cần thiết. Chính Giêsu xưa kia không đề cao cái nghèo, đã đến và sống giữa những người nghèo, đã muốn làm người và sinh ra ở giữa những người nghèo đó thôi. Không những thế, Giêsu còn dám “la cà”, lân la trò chuyện và tiếp xúc với những kẻ bị cho là dân ngoại, là thành phần bên lề xã hội Do Thái nữa.

Lễ đầu năm mới
Người Công giáo Ấn nói riêng và người dân Ân nói chúng, ăn mừng năm mới vào Tết dương lịch. Trước cổng “nhà thờ chính tòa”, kể cả cổng nhà dân chúng được trang trí bằng những cây chuối xanh non, tượng trưng cho điều mới mẻ của năm mới. Hễ ai bước qua cổng có trang trí bằng những cây chuối xanh tươi, kẻ ấy đang bước vào bằng những bước chân hoàn toàn mới mẻ. Điều đó cũng có nghĩa là tất cả những gì thuộc về năm cũ đã được giũ bỏ lại phía sau để đi vào thế giới mới của năm mới. Chưa hết, sau thánh lễ giao thừa ở “nhà thờ chính tòa”, một hình người nộm được treo lên thân cột, tượng trưng cho năm cũ được đốt đi để chào đón năm mới. Trên hình người nộm có ghi câu “Good bye 2012”. Nghi thức này phải do chính tay linh mục quản xứ thắp lửa. Trong dịp lễ đầu năm này, họ mang hoa quả và nông sản đến đặt dưới chân bàn thờ, tượng trưng cho “của lễ đầu mùa” được dâng lên, cùng với hy tế mà vị chủ tế cử hành để tạ ơn Đấng Tối Cao và để cầu an cho năm mới. Một hình ảnh quá đỗi huyền diệu! Mình chợt liên tưởng tới hình ảnh của câu nói “Eka eva Yajũa – chỉ có một Hiến tế duy nhất!”, gom góp trong đó những vất vả, khó nhọc, lao công, cùng với những buồn, vui của kiếp người, tất cả được kết tụ và đặt trên đĩa thánh cuộc đời để rồi tất cả trở thành một hiến lễ tạ ơn dâng lên Đấng Hóa Công của vũ trụ và thời gian. Hình ảnh đẹp quá đi chứ!

Có người mang đến hai buồng chuối chín rất đẹp. Có người mang đến hai bao lúa được đóng chặt, đầy tràn. Mình nghĩ gia đình này khá giả hơn. Có người thì mang đến một nải chuối, cũng đặt dưới chân bàn thờ, miệng lâm râm cầu khẩn điều gì đó mình không hiểu. Hình ảnh này làm mình liên tưởng đến hai đồng xu của bà góa nghèo trong Tin mừng. Có một trường hợp đặc biệt hơn. Hai phụ nữ, một đã lớn tuổi và một còn trẻ tay bế đứa con đến xa xa trước bàn thờ, miệng lẩm nhẩm cầu kinh, ánh mắt như bừng sáng lên và hướng về xa xăm. Sau đó, người phụ nữ trẻ trao đứa bé cho người phụ nữ lớn tuổi (có lẽ là bà ngoại của cháu bé) và đem đặt dưới chân bàn thờ, miệng lâm râm khấn vái không ngơi. Sau đó bế cháu bé lên đem trả lại cho người phụ nữ trẻ.
Họ muốn dâng lên lời tạ ơn mà chẳng có gì để dâng, đành dâng lên “tặng vật” quý giá nhất là chính giọt máu họ cưu mang, chính đứa con thân yêu của họ, để được chúc phúc và cầu an.

Phải nói rằng người dân Ấn rất sùng đạo. Phía trước “nhà thờ chính tòa” có đặt hai bức tượng lớn, một bức tượng Đức Maria bế xác Chúa Giêsu và một bức tượng thánh giá chịu nạn. Nếu đang trên đường chạy xe đi làm, hoặc bất cứ đi đâu, khi đi ngang qua nhà thờ, họ đều dừng lại, xuống xe, cúi chào một cách kính cẩn và dâng một lời kinh rồi đi tiếp, với hy vọng những lời thân thưa đơn thành kia sẽ vang vọng, và thấu tới trời xanh; đồng thời hy vọng những “bụi trần” giữa cuộc đời sẽ được cuốn đi, để lòng thanh thản, để có thể nhìn thẳng về tương lai đang chờ phía trước. Bất kể buổi sáng hay buổi chiều, ban ngày hay ban đêm, họ đều làm như thế. Ban đêm, có những gia đình thắp những bát đèn nhỏ được nung bằng gạch có đổ dầu và bấc nổi, đem đến đặt dưới chân những bức tượng ấy. Họ yên lặng trước những bức tượng rất lâu. Nhìn từ xa, chỉ có thể thấy như những đốm vàng nho nhỏ, lấp lánh. Cảnh tượng rất trang nghiêm và huyền bí. Họ đứng im, bất động, mắt như chìm đắm vào những ánh đèn mập mờ, vô định kia.
Trong cái huyền ảo đó, chẳng còn giai cấp, chẳng còn phân biệt giàu nghèo. Tất cả như đang chan hòa trong một thế giới nhiệm mầu, lung linh. Quả thực, đời người có chăng, cũng chỉ là một ánh đèn giữa đêm khuya, mênh mông, vô tận, với một lượng “nhiên liệu” nhất định vừa đủ thắp sáng chừng 100 năm.
Khi còn sống đã không muốn nhìn mặt nhau, thì mai kia trên thiên đàng sẽ nói gì với nhau về những tháng ngày ở thế gian này.

Nhìn vào những khoảnh khắc linh thiêng nơi những tâm hồn mộ đạo đó, mình có cảm nhận như cuộc sống xung quanh đã lùi ra thật xa để nhường chỗ cho một “cảnh giới khác hẳn” đang hiển hiện mà đôi khi mình chẳng thể hiểu được. Giữa cái im lặng và thinh không ấy, mình có cảm giác rằng, phía sau những cử chỉ bất động, đăm chiêu nơi con người kia là những ánh mắt hướng về xa xăm, đang gửi hồn vào Thực Tại mênh mang để rồi tan biến mất giữa vô biên, vô tận.
Có lẽ, đối với họ, cầu nguyện thì quan trọng hơn là lý luận. Có lẽ, họ chẳng thể định nghĩa được cầu nguyện là gì hay có bao nhiêu loại hình cầu nguyện, nhưng họ biết nếu không thực hành cầu nguyện, tâm hồn sẽ ra khô héo. Vì thế, họ thành tâm câu nguyện liên lỉ. Họ cầu nguyện, bởi đơn giản là cầu nguyện thì toát lên một thứ hương vị ấm áp. Cầu nguyện có thể làm cho các tâm hồn xích lại gần nhau để có thể rung cảm với nhau trong những giai điệu của yêu thương, đồng cảm, và san sẻ. Một khi những con tim đã có thể rung cảm với nhau, thì tình người ắt hẳn sẽ dâng trào, và tâm hồn cũng sáng lên, cũng thơ thới, thênh thang, như lời của đại văn hào thế giới Rabindranath Tagore đã từng cảm nghiệm, rằng:

Bạn có nghe tiếng chân Ngài (Chúa) vẫn bước
Từng phút giây, năm tháng, từng thời.
Ngày lại đêm, Ngài vẫn bước không ngơi
Tôi theo dõi và tôi lên tiếng hát
Trên lối nhỏ rừng sâu hè chói nắng,
Hay trong đêm u ám của mùa mưa,
Hay xe mây khi sấm dội bao la:
Tôi ca tụng bằng lời ca muôn điệu.
Sầu lại sầu dù bao nhiêu chồng chất,
Gót chân Ngài nhấn nặng xuống tim tôi;
Nhưng một khi vừa chạm tới kim hài,
Lòng tôi bỗng dào lên bao sinh thú.
Tia sáng đầu tiên hãy loé lên,
Gieo trong tôi niềm vui sướng rộn ràng.
Khi tia mắt (Ngài) dừng trên tôi âu yếm:
Xin cho tôi trở về ngay với Chúa
Lúc sáng về tôi trở lại với tôi.

(Rabindranath Tagore – Chắp tay cầu nguyện-Giataanjali)

Cá Cơm

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Chào PT

Vừa đặt chân vào đến ranh giới, PT đón mình bằng một trận mưa tầm tã. Mình có cảm tưởng như đó là trận mưa lớn nhất kể từ khi bắt đầu mùa mưa. Từng trận mưa nặng hạt cứ phả vào mặt, làm cho da mặt có cảm giác vừa căng rát, vừa che khuất tầm nhìn trên đường. Hai chiếc áo mưa mang theo, dù đã bọc gần như kín mít, vẫn cảm thấy như không đủ che hết được trận mưa này.
Con đường đất đỏ dẫn vào khu vực, mỗi khi có chiếc xe nào chạy qua vào mùa nắng, thì cả một vùng hai bên đường chẳng thể nhìn thấy nhau, không bởi khói sương mà vì bụi đất đỏ mịt mù. Những lớp bụi tung lên và cuốn theo chiều gió, bám vào những hàng cây hai bên đường. Những lớp còn lại, tạo thành một lớp bột mịn, khi gặp mưa lớn, thì trôi theo dòng nước, tạo thành dòng chảy mang theo phù sa. Vì thế, các con sông bắt nguồn từ vùng đất Tây Nguyên, luôn có màu đỏ au, đục ngàu.

Mùa mưa, con đường trở nên trơn trượt và sình lầy. Khi gặp phải trận mưa lớn, đoạn đường trở nên như chiếc võng, cứ đánh đưa “con ngựa sắt” mình, khi thì trượt sang mép bên này đường, khi thì sang tận mép bên kia. Và dẫu muốn biến thành chiếc võng, để cứ …đong đưa “con ngựa sắt” trên mặt đường, thì cũng chẳng ngăn cản được bước chân của kẻ đang ít nhiều bước đi trên những cung đường như thế này.
1

Những khuôn mặt hiền từ, những nụ cười hồn hậu, chất phác là những thứ mình bắt gặp khi trở lại sau một năm.

Những con người quanh năm lam lũ, gắn chặt đời mình vào những thửa đất, những hàng cây nông nghiệp, đã như một phần tất yếu của cuộc đời những con người nơi đây.

Những mảnh đời gắn liền với những thân phận quy tụ từ những vùng đất khác nhau, nhưng cùng chung nhau một nỗi khao khát, đó là con tim bình an.
Hơn 50 năm qua, họ vẫn trung thành, gắn bó với mảnh đất mà họ đã chọn như là quê hương thứ hai của đời họ.

Những con người đã kinh qua gian khổ, đã chứng kiến những tàn khốc của binh lửa, của chiến tranh thì hơn ai hết, chính họ rất khát khao cuộc sống yên bình. Có lẽ vì thế mà suốt bao nhiêu năm, họ ngày ngày chấp nhận yên phận với khoản thu nhập bấp bênh từ những thứ do chính công sức đổ xuống nương đồng.

Hơn 50 năm, thế hệ đầu tiên trong số những người đến lập nghiệp, đã có những người hoàn tất cuộc đời của mình và đã gửi lại thân xác ở lòng đất mẹ nơi quê hương thứ hai này.
Mình không biết được có bao nhiêu giọt mồ hôi của những con người nơi đây đã đổ xuống và hoà quyện vào vùng đất này. Mình cũng không biết được có bao nhiêu ước mơ đã được trải dài xuống dòng chảy cuộc đời, cụ thể nơi những con người đang sinh sống nơi đây.

Mình biết được một điều, là cho đến nay, họ vẫn phải vất vả, lam lũ để mưu sinh trên mảnh đất đã gắn bó hơn một nửa đời người của họ.

Hầu như họ hiểu nhau, biết rõ về nhau và chia sẻ cho nhau những vui buồn của nhịp sống thường ngày. Họ biết tường tận về nhau và tin tưởng nhau đến nỗi, ngay cả một bảng hiệu quảng cáo dịch vụ được viết bằng than củi, đã mờ nhạt theo năm tháng, người ta vẫn hiểu được nơi ấy cung cấp dịch vụ gì.
2

Không cầu kỳ trong cách sống, không vồn vã khi tiếp xúc, họ chỉ đơn giản mong muốn cuộc sống yên bình. Nếu một lữ khách dừng chân, sẽ cảm nhận được câu thơ của Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”.

Họ hy vọng thật nhiều, nhưng rồi niềm hy vọng vẫn cứ mãi xa vời với thực tại của họ. Và họ thất vọng, rồi lại đặt hy vọng và lại thất vọng. Khi thất vọng với mặt đất, thì chính là lúc họ ngước nhìn lên cao, để đặt niềm hy vọng vào một thực tại trên cao.
Phải chăng, “hướng nhìn lên cao” là nơi cuối cùng mà người ta có thể gửi gắm niềm tin của mình.
Phải chăng, việc hướng về thực tại trên cao để thấy được vẻ đẹp của đời sống, để thấy cuộc sống này thật đáng sống, và để thấy cuộc đời họ không đi vào ngõ cụt chính là động lực giúp họ có thể có sức mạnh để bước tiếp những bước chân trên hành trình sống kiếp người của mình.
Và phải chăng, đó là nét đẹp thân thương giữa những ngổn ngang của cuộc mưu sinh đầy trắc trở.

3

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đường Đi*

20151031_164350[1]

(Nhìn thấy mắt họ ánh lên niềm vui, mình cũng vui)

Nơi những bước chân đi qua trong đời sứ vụ, hắn đã từng đi trên những con đường, có gập ghềnh, có đá sỏi, và cũng có những con đường trải rộng thênh thang, nhưng khi đi trên cung đường dẫn đến với những con người đang sống ở nơi đây, hắn lại miên man suy nghĩ về những con đường và cảm thương về những phận người trong cuộc đời này quá đỗi.

Ai ai, dường như cũng đang phải loay hoay với những giải pháp để tìm lời giải đáp thoả đáng cho những “vấn nạn” về bài toán đời mình.

Họ kiếm tìm trong những lao nhọc.

Họ tất bật và vội vã với những lo toan.

Họ vất vả giữa những xuôi ngược trong dòng đời.

Họ tìm được, rồi lại vuột mất đi, ngay trước mắt họ.

Có đó rồi lại mất, chẳng có chi vững bền mãi mãi.

Trên tất cả, họ chỉ mong có được một cuộc đời hạnh phúc.

Và tất cả, họ đều cùng có chung một con tim kháo khát được bình an.

Nhưng, có lẽ, cách thức chọn lựa để sống đời bình an, hạnh phúc của từng người lại quá khác nhau, nên cuộc đời có muôn vàn mảnh đời khác nhau.

Đành rằng, chẳng ai có thể sống cuộc đời mình, và chắc cũng chẳng có được mấy người lựa chọn cuộc sống giùm người khác, nhưng những phận người ở nơi này vẫn gợi lên trong hắn một chút gì đó mênh mang.
Có thể nói về “số phận” hay “định mệnh” đau thương đã và đang ập xuống những mảnh đời này chăng?

Kinh nghiệm của hắn về những nẻo đường là kinh nghiệm của sự trầy trật, vấp ngã, nhưng vẫn luôn đứng dậy để đi tiếp và đôi mắt vẫn luôn hướng nhìn về phía trước.

Hắn chẳng thể biết được bao giờ thì con đường của hắn sẽ kết thúc, nghĩa là hắn chẳng thể dừng bước để yên nghỉ. Hắn chỉ biết được một điều là hắn chỉ được sống có một lần, phải hoàn thành cuộc đời hắn, phải dám lãnh trách nhiệm về hắn, và lãnh trách nhiệm về những hệ luỵ hắn đã làm nên, bởi chẳng ai có thể thay thế cuộc đời hắn. Và vì thế, mắt hắn luôn đau đáu nhìn về đích điểm đời hắn như mục tiêu tối hậu; tim hắn luôn nỗ lực mở lòng trước những thách đố, những sự kiện của cuộc sống thường ngày để có thể nghe được tiếng thì thầm của Thầy Giêsu. Đích điểm ấy chính là nguồn động lực và ý nghĩa cho hành trình đời hắn. Đích điểm ấy mời gọi hắn hiến dâng bản thân để trao tặng cho Thầy Giêsu, và chính lúc đó, hắn lại được đón nhận tình yêu nhưng không và sự tặng ban trọn vẹn là Thầy Giêsu.

Như thế, với hắn, chẳng thể gọi là quy luật ngẫu nhiên của “định mệnh” hay “số phận” của một đời người, mà là quy luật của sự chọn lựa đời mình, quy luật liên luỵ của cái trước với cái sau.

Mặc cho những vần xoay biến đổi, dòng chảy cuộc đời vẫn tấp nập. Chỉ có những chọn lựa của đời người mới có thể làm thành chính họ.
Ôi, những con người, những con đường!

Chợt thấy những vần điệu của R. Tagore, thật ấm.
Bạn có nghe tiếng chân Ngài (Chúa) vẫn bước
Từng phút giây, năm tháng, từng thời.
Ngày lại đêm, Ngài vẫn bước không ngơi
Tôi theo dõi và tôi lên tiếng hát
Trên lối nhỏ rừng sâu hè chói nắng,
Hay trong đêm u ám của mùa mưa,
Hay xe mây khi sấm dội bao la:
Tôi ca tụng bằng lời ca muôn điệu.
Sầu lại sầu dù bao nhiêu chồng chất,
Gót chân Ngài nhấn nặng xuống tim tôi;
Nhưng một khi vừa chạm tới kim hài,
Lòng tôi bỗng dào lên bao sinh thú.
Tia sáng đầu tiên hãy loé lên,
Gieo trong tôi niềm vui sướng rộn ràng.
Khi tia mắt (Ngài) dừng trên tôi âu yếm:
Xin cho tôi trở về ngay với Chúa
Lúc sáng về tôi trở lại với tôi
.”
(Rabindranath Tagore – Chắp tay cầu nguyện – Giataanjali)

 

 

* Cảm nghĩ nhân những lần đến bệnh viện Nhân Ái, Bình Phước.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

DUC IN ALTUM

561309_195672243880502_100003131836560_301311_1168100758_n

Thoáng chút đã một năm lướt qua. Sự lướt qua của thời gian nhanh đến mức hắn chẳng thể ngờ tới được.
Tuy vậy, khi ngoảnh lại, hắn vẫn thấy mình mạnh khoẻ, vẫn đứng thẳng và mỉm cười với cuộc đời, với con người, và vẫn yêu cuộc đời này quá đỗi. Đó chính là tâm tình thôi thúc hắn phải cất lên lời tạ ơn trời, cám ơn đời và tri ân người.
Đứng trước ngưỡng cửa của năm mới đang đến, một năm mới đã khép lại tất cả niềm vui cũng như đau buồn trong công việc, hân hoan cũng như phiền muộn của nhân gian, và đang mở ra trước mắt hắn những vận hội cũng như thử thách phía trước.
Nhìn về quá khứ, cũng như bao cá thể khác, hắn được quẳng vào thế giới và chẳng có gì có thể làm thoả mãn khát vọng thâm sâu nơi tâm hồn hắn, và cũng chẳng có gì có thể bảo đảm cho vận mệnh đời hắn. Tất cả mọi người, ai ai rồi cũng phải sống cuộc đời của họ. Chẳng ai có thể sống giùm cuộc đời của hắn. Tiền bạc, địa vị, danh vọng… tất cả rồi cũng lùi vào quá khứ như chính khoảng thời gian ngắn ngủi đã qua của hắn. Vì thế, hắn vẫn mải miết đi tìm câu trả lời cho những khắc khoải, ưu tư của đời hắn.
Nhìn vào hiện tại, cũng như bao sinh vật khác trên trần gian này là được dựng nên vì chính hắn và chỉ có thể tìm lại được chính mình khi thành thật hiến dâng (x. Gaudium et Spes 24), hắn được trao quyền đồng kiến tạo thế giới với lời hứa được ở cùng (x. Mt 28, 20). Hắn có niềm vui song hành trong những bước chân. Và có lẽ, dấn thân cho môt lý tưởng đã được ấp ủ trong niềm vui được đồng hành chính là chìa khoá cho cuộc đời của hắn.
Nhìn về tương lai, cũng như những người khác trên hành trình cuộc đời, hắn được trao ban niềm hy vọng, một niềm hy vọng đáng tin cậy, đến nỗi có thể đối diện với thực tại và chấp nhận được vì nó dẫn đến mục đích tối hậu đến mức biện minh được cho nỗ lực cam go của cuộc hành trình đời hắn (x. Thông điệp Spe Salvi). Niềm hy vọng vào thực tại tương lai nhắc nhở hắn không để cho gánh nặng quá khứ đè xuống hiện tại, và kéo ngược tương lai của hắn vào quá khứ. Niềm hy vọng đó thôi thúc hắn cuộn tròn quá khứ lại và vác lên vai, bằng một hứng khởi của trẻ thơ, để đi vào tương lai đời hắn như một cuộc chơi, để sáng tạo đời hắn với tất cả sự hồn nhiên, với tất cả niềm hào hứng của kẻ lần đầu tiên bước vào cuộc chơi.

“Hãy ra chỗ nước sâu” (Lc 4,5) chính là lệnh truyền từ Thầy Giêsu vị Thầy chí Thánh, cũng là mẫu gương hắn bước theo.
Ra chỗ nước sâu để đắm mình trong đại dương mênh mông của biển đời.
Ra chỗ nước sâu để thử sức với những vận hội và thử thách.
Ra chỗ nước sâu để có thể thử sức với những cơn sóng dữ có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Vì thế, hắn mạnh dạn và thanh thản bước tiếp những bước đi.
Nếu mục tiêu tối hậu và ý nghĩa của đời hắn là tìm gặp và sống với Jesus như là đích điểm của đời người, thì việc khép lại một năm cũ mà vẫn còn ngân lên trong tâm hồn hắn một thao thức dấn thân, và việc mở ra một năm mới cũng đồng nghĩa với việc “xắn tay áo” để thực hiện những dang dở trong hành trình đời hắn làm hắn thêm vui.
Chẳng ai đã thực sự gặp được Jesus rồi mà vẫn còn thờ ơ với chính mình và với cuộc đời.

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment