ĐỜI THÁNH HIẾN SỐNG NIỀM VUI PHỤC SINH

Dẫn nhập
Mở đầu tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng, Đức thánh cha Phanxicô đề cập đến những con người gặp được Đức Kitô là những người ngập tràn niềm vui trong tâm hồn bởi vì họ được Đức Kitô cứu độ giải thoát khỏi tội lỗi, buồn rầu, trống rỗng nội tâm và cô lập. Nơi những con người này, niềm vui được sinh ra và luôn luôn tái sinh, vì họ đã được chạm đến Đức Kitô là nguồn mạch của niềm vui bất tận[1]. Tuy nhiên, ngay sau đó, Đức thánh cha đã cảnh báo “nguy cơ lớn nhất trong thế giới ngày nay, với những cung cấp tràn ngập và đa dạng của chủ nghĩa tiêu thụ, là một nỗi buồn cá nhân đến từ tâm hồn tự mãn và tham lam, từ cơn sốt tìm kiếm những thú vui phù phiếm, và một lương tâm bị cô lập. Khi đời sống nội tâm bị đóng kín với những tư lợi, thì không còn chỗ cho người khác nữa, những người nghèo không thể vào được nữa, người ta không còn nghe được tiếng của Thiên Chúa, không còn được hưởng niềm vui ngọt ngào của tình yêu Ngài, tim họ không còn đập những nhịp nhiệt thành để làm việc thiện nữa.”[2]
Đời thánh hiến trong phẩm trật giáo hội chẳng thuộc hàng giáo sĩ, và cũng chẳng thuộc hàng giáo dân[3], nhưng là để làm trung gian cho một mẫu hình đã được Đức Kitô chạm đến và đổ đầy những hứng khởi thiêng liêng. Người sống đời thánh hiến là những người đã gặp được Đức Kitô và chính nơi đó mà niềm vui của họ được phát sinh và liên tục tái sinh. Niềm vui ấy, không chỉ hướng các năng lượng của một đời người đến Thiên Chúa, mà còn khơi động nơi họ niềm vui được Đức Kitô đồng hành, niềm vui được Đức Kitô khơi dậy niềm bình an và tin tưởng, niềm vui được Đức Kitô làm cho cuộc đời có ý nghĩa.
Thế nhưng, niềm vui gặp gỡ ấy chỉ trở nên trọn vẹn nơi Đức Kitô phục sinh, nghĩa là cùng nhịp bước đi với Đức Kitô xuyên qua gian khổ để đến vinh quang. Do đó, niềm vui trọn vẹn của những người sống đời thánh hiến là niềm vui để cho Đức Kitô phục sinh dẫn dắt đời mình, để đời sống của họ là một cuộc góp phần biến đổi cấu trúc thế giới, qua những đóng góp giá trị Tin mừng nơi những con người mà Thiên Chúa đặt để họ đi chung trên đường đời. Nếu những người sống đời thánh hiến hôm nay có được niềm vui gặp gỡ và lan toả được niềm vui này, thì thế giới sẽ thấy rằng dẫu lúc này ta chưa chia sẻ được, dẫu lúc này ta chưa cải hoá được, nhưng đây là lối sống trong tương lai của đời thánh hiến .[4]
1. Niềm vui được Đức Kitô đồng hành trên mọi nẻo đường
Nhìn vào các trình thuật của tác giả Tin mừng, người ta dễ dàng nhận ra một Đức Kitô phục sinh không còn bị ảnh hưởng hay giới hạn của thời gian, không gian hay bất cứ cảnh ngộ nào của cuộc sống nữa. Ngài có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Ngài có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống của các môn đệ, bất kể đó là ngày hay đêm, nơi này hay nơi kia. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước chân Ngài. Đức Kitô phục sinh có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt. Điều này đã làm cho các môn đệ không còn buồn rầu, sợ sệt hay lo lắng nữa, bởi vì không có thời gian nào Ngài không ở bên họ.
Cũng vậy, những người sống đời thánh hiến, một khi đã chạm được Đức Kitô phục sinh, họ cũng có chung cảm nghiệm được như các môn đệ, là không còn nhận ra sự đơn độc trong hành trình cuộc đời, bởi các mối liên hệ giữa họ với Đức Kitô phục sinh, cũng như giữa những con người với nhau và sự đổ đầy tình người đã san bằng những khoảng trống trong tâm hồn họ.
Hình ảnh một chiếc ao tù túng, nước đọng và một chiếc ao có sự tuôn chảy của dòng nước diễn tả rất rõ nét điều này. Chiếc ao không đón nhận nguồn nước mới sẽ luôn là một chiếc ao tù túng. Nơi đó, rác rưởi, cặn bã sẽ tồn đọng và tạo điều kiện cho những rêu phong bám víu, làm ô nhiễm vùng nước. Ngược lại, một chiếc ao luôn đón nhận và cho đi nguồn nước sẽ luôn có cơ hội đón nhận nguồn nước mới và làm cho môi trường sống của chiếc ao đó luôn tươi mới nhờ việc thông chuyển dòng nước, đồng thời, sự sống luôn có dịp được phát triển. Một tâm hồn luôn biết mở lòng đón nhận ân sủng, để cho nguồn ân sủng tuôn chảy trong đời mình, sẽ là một tâm hồn đầy ắp niềm vui. Thật vậy, cuộc đời của những người sống đời thánh hiến sẽ trở nên tù túng, ngột ngạt và sẽ không cảm nghiệm được niềm vui khi không đón nhận nguồn ân sủng từ nơi Đức Kitô phục sinh.
Sống niềm vui được Đức Kitô đồng hành trên mọi nẻo đường không làm cho những người sống đời thánh hiến mất đi phẩm giá nội tại của mình trong cộng đồng xã hội, vốn đã được tạo dựng cách tốt đẹp nhưng bị đánh mất do tội nguyên tổ, trái lại nó giúp họ thoát khỏi những hệ luỵ do tội lỗi gây nên, đồng thời làm tăng thêm địa vị của họ, giúp họ sống trọn tình “con thảo” đối với Cha trên trời. Trong lối nhìn này, sống niềm vui phục sinh là đón nhận hồng ân của Thiên Chúa ban cho con người qua “Người Con chí ái” là Đức Kitô phục sinh.
2. Niềm vui được Đức Kitô phục sinh khơi động sự bình an, tin tưởng
Lời chào “Bình an cho anh em”[5] là lời đầu tiên mỗi khi Đức Kitô phục sinh gặp gỡ các môn đệ, mà không phải bất cứ lời nào khác. Trong những thời khắc mà các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, thì Đức Kitô phục sinh đã không những ban bình an cho các môn đệ, mà còn ban Thánh Thần cho họ: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”[6] . Một khi các môn đệ gặp được Đức Kitô phục sinh, họ cảm nghiệm được sự bình an tự đáy lòng.
Cũng vậy, những người sống đời thánh hiến cũng sẽ cảm nghiệm được niềm vui gặp gỡ Đức Kitô phục sinh qua những khoảnh khắc nguyện gẫm, chiêm niệm, những khoảnh khắc một mình với Chúa, khi vui cũng như lúc buồn. Có khi họ có nhiều nỗi niềm để tâm sự, nhưng cũng có nhiều lúc họ chẳng có gì để thân thưa. Họ chìm đắm trong thinh lặng với chỉ một mình Chúa. Thế nhưng, trong sự thinh lặng thâm sâu ấy, họ cảm nghiệm được bình an đến lạ lùng[7]. Và chính sự bình an nơi thâm sâu cõi lòng đó khơi động lên một niềm vui sâu lắng, niềm vui nội tâm.
Nếu cuộc gặp gỡ với Đức Kitô phục sinh khiến tâm hồn các môn đệ đang tan nát trở nên ổn định và đầy tràn bình an của Thánh Thần, Maria đang buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau sầu não tuyệt vọng trở nên phấn khởi, Tôma đang ngờ vực trước thực trạng cuộc sống của mình trở nên vững tin, thì những thế hệ tiếp theo, và dường như đời môn đệ qua mọi thời, đều có cùng một cảm nghiệm về niềm vui được Đức Kitô phục sinh mang lại bình an trong từng tình huống, biến cố cuộc đời họ. Đức Kitô phục sinh chính là nguồn khơi động sự bình an và tin tưởng cho đời môn đệ, để họ có thể khẳng định và chia sẻ niềm vui với nhau.
Sống niềm vui gặp gỡ Đức Kitô phục sinh, là nhận ra ân huệ của đời mình, như những chú ve, ca hát khi mùa xuân tới, hơn là những chú kiến, làm việc miệt mài để dự trữ thức ăn cho mùa đông[8]. Niềm vui sâu lắng qua cuộc gặp gỡ này không phải là một thứ kỷ vật nào đó mà người ta đem cất giữ thật kỹ trong tủ kiếng, để rồi chỉ có thể chiêm ngắm nó từ xa, nhưng là cả một mênh mông của biển khơi mà nơi đó, người ta có thể thỏa sức đắm mình bơi lội, vùng vẫy và ngụp lặn giữa đại dương của tình yêu thương. Đó là ý nghĩa cao cả của mối liên hệ giữa Thiên Chúa với con người và giữa những con người trong cuộc đời mà qua đó, người ta có thể thiết lập để bước đi giữa những phong ba của cuộc sống và để có sức mạnh hầu sống trọn vẹn kiếp người.
Thật vậy, sự kỳ diệu của số phận con người được sáng tỏ khi được đặt để trong mối tương quan với Thiên Chúa và với những người xung quanh. Chính trong mối tương giao với Thiên Chúa và với đồng loại, con người có thể khẳng định được vị trí và giá trị của bản thân mình. Trong mối tương giao với Thiên Chúa, con người được khẳng định địa vị làm con và phẩm giá trổi vượt trên mọi loài. Trong mối tương giao với đồng loại, cái tôi của một cá thể được bộc phát và được công nhận bởi một cá thể khác. Việc gặp gỡ Đức Kitô phục sinh đã không những phục hồi vị trí môn đệ mà còn khơi động nơi tâm hồn các ông niềm phấn khởi và hăng say, lên đường trở về Giêrusalem để gặp gỡ, chia sẻ cho nhau niềm vui gặp Chúa và từ đó, tỏa đi khắp nơi loan báo cho mọi người về kinh nghiệm về Đức Kitô phục sinh của mình. Chính trong từng kinh nghiệm gặp gỡ cá vị, riêng tư với Đức Kitô phục sinh mà họ cảm nghiệm được niềm vui được Đức Kitô khơi động và chính là động lực thôi thúc họ quy tụ để chia sẻ cho nhau và cho mọi người. Người sống đời thánh hiến, một khi được chạm đến Đức Kitô phục sinh, cũng sẽ cảm nghiệm được niềm vui được bình an giữa những ngổn ngang của cuộc đời.
3. Niềm vui được Đức Kitô phục sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa
Sau thời điểm Đức Kitô bị hành hình, tâm hồn các môn đệ hầu như hoàn toàn rơi vào tuyệt vọng, vào trạng thái khủng hoảng, khép kín. Các ông có nguy cơ rơi vào trạng thái mãi mãi ở trong bản thân, và có nguy cơ bị đóng khung trong “nhà tù cái tôi” của mình. Và nếu bị giam hãm mãi, bản thân họ có nguy cơ bị đóng băng và trở thành những cái tôi ích kỷ, ngột ngạt. Lúc đó, hành trình của một đời người trở nên hành trình của sự lẻ loi, cô độc.
Mỗi một con người, một khi được sinh ra trong thế giới này, đều mang trong mình sứ mạng hoàn thành cuộc đời của mình qua những công việc cụ thể, qua những chọn lựa cho mình một hướng đi, một cách sống trong cuộc đời để có thể sống một đời sống có ý nghĩa. Ai ai cũng phải sống cuộc đời mình và không ai có thể sống thay cho người khác, dù họ có quyền và có thể chết thay cho người khác. Thế nhưng, nếu thiếu đi động lực sống, hay nói cách khác, nếu không tìm được ý nghĩa cho đời mình, thì đời sống chỉ là những bước chân lê lết, mệt nhoài, kéo lê cuộc đời từ trong quá khứ, lết vào hiện tại và lê về tương lai. Các môn đệ Đức Kitô đã trải qua những thời khắc như thế sau khi Thầy bị đóng đinh. Họ đã lầm lũi bước đi trong bóng đêm của lầm than và tuyệt vọng.
Con người được sinh ra trong cuộc đời, với một loạt những giá trị, tính cách, quan niệm sống, sở thích, xu hướng mà không ai có thể thay thế. Họ là những cá thể độc nhất vô nhị và có trách nhiệm với bản thân về những giá trị đó; kể cả khi đối diện với Tuyệt Đối, họ vẫn là một nhân vị với tất cả ý nghĩa đầy đủ của hạn từ này. Tất cả đều như hối hả, tất bật cho việc hoàn thành sứ mạng cao cả của mình là sứ mạng làm người. Tuy nhiên, hành trình trong đơn độc luôn là một hành trình với những bước chân cô đơn, rời rã, bởi tự bản chất, con người không thể sống “đơn thân độc mã”, không thể sống mà không cần đến động lực sống làm cho đời sống của họ có ý nghĩa. May thay, Đức Kitô phục sinh đã trở lại và những tâm hồn như đã chết bỗng hồi sinh, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ, những cái tôi cô độc giờ đây lại tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một sức sống, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa[9]. Những cái tôi tuyệt vọng giờ đây được nối kết với Cái Tôi vinh hiển, tạo nên những mối dây liên hệ giữa đất và trời và giữa những con người với nhau.
Đức Kitô phục sinh đã khai mở thời đại mới. Tuy nhiên, biến cố phục sinh của Đức Kitô không phải là một biến cố bất ngờ xuất hiện, nhưng được đánh dấu bằng những biến cố trong cuộc đời công khai. Nếu chỉ nhìn bằng cặp mắt thường, khó có ai có thể nhận ra được con người của Đức Kitô trên thập giá lại là con người của niềm vui, khó có thể nhận ra nơi một thân xác bị tan nát vì đòn đánh lại là một thân xác sáng láng, huy hoàng với những thương tích thánh trong ngày phục sinh. Khi đón nhận đi vào mầu nhiệm vượt qua, Đức Kitô đã hứa “một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”[10]. Theo các nhà chú giải, lời tiên báo này không những chỉ nhắm đến cuộc khổ nạn mà còn ám chỉ đến cuộc phục sinh của Đức Kitô trong công trình cứu chuộc. Tác giả Henri Nowen đã trình bày ý nghĩa này như sau: “Được giương lên không nguyên ám chỉ Đấng bị đóng đinh, mà còn ám chỉ Đấng phục sinh nữa. Được giương lên không nguyên ám chỉ cơn hấp hối đau thương khủng khiếp, mà còn ám chỉ cơn hôn mê ngây ngất trong niềm hoan lạc nữa. Được giương lên không nguyên ám chỉ đau khổ chết chóc, mà còn ám chỉ cả niềm hoan lạc phục sinh nữa.”[11]
Con đường của những người sống niềm vui được Đức Kitô phục sinh làm cho có ý nghĩa không gắn liền với vẻ hào nhoáng của những thành công hay vinh hoa sáng chói ở đời, nhưng là “con đường nghịch lý” và nó trở thành quy luật bất di bất dịch mà bất cứ ai muốn sống niềm vui này đều phải tuân theo, đó là đón nhận chính cái thực tại thường ngày của mình để thông hiệp với cái thực tại mà Đức Kitô phục sinh đã khai mở. Đó là một con đường âm thầm bước đi giữa thế gian nhưng lại đưa đến đích điểm huy hoàng với tất cả những giá trị cao quý của con người. Điều chính yếu ở đây là việc để cho Đức Kitô phục sinh dẫn dắt không làm cho con người thoát ra khỏi thế giới hay tách lìa khỏi thế giới, nhưng làm cho họ tiếp tục gắn bó với thế giới, cải biến thế giới hiện tại để rồi sự sống và niềm vui lại có thể được nhân rộng và toả lan đến tất cả[12].
Sống niềm vui phục sinh là đón nhận chính Đức Kitô phục sinh vào trong cuộc đời để Ngài biến đổi cuộc sống hiện tại của mình và mở rộng tâm hồn để có thể bước ra khỏi những tối tăm, mịt mù của thời gian và của những giới hạn, những bất toàn trong suy nghĩ để tiến đến một tương lai khác biệt, tươi mới đang chờ sẵn. Sống niềm vui phục sinh là đón nhận Đức Kitô phục sinh vào trong cái thực tại bi nhất nhất của phận người để qua đó, con người có thể kéo dài niềm vui hữu hạn để tiến đến niềm vui vô hạn trong cái cảm nghiệm thâm sâu của tâm hồn nhờ sự hiện diện của Đức Kitô phục sinh.
Kết
Sự kiện về cái chết của Đức Kitô trên thánh giá là một cuộc khủng hoảng lớn lao ngần nào đối với các môn đệ, thì cuộc phục sinh của Ngài lại mang đến ý nghĩa lớn lao ngần ấy cho các môn đệ và biến đổi toàn bộ đời sống các môn đệ, và còn hơn thế nữa, cuộc gặp gỡ với Đức Kitô phục sinh đã phục hồi nơi các ông niềm tin vào Thiên Chúa và niềm tin vào con người. Cả hai niềm tin nâng đỡ nhau và mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho các môn đệ. Các môn đệ không thể không loan báo Tin mừng trọng đại này.
Dưới cái nhìn của đức tin, con người bị bủa vây tư bề giữa những bùn lầy của sự dữ, bởi sự kiêu căng vô đối, bởi những ngạo mạn, muốn loại trừ tất cả ra khỏi cuộc đời mình, kể cả Đấng có quyền trên sự sống và sự chết của mình. Theo đó, đau khổ, sự dữ đã xâm nhập và đang đè nặng lên phận người. Vì thế, con người cần được giải thoát để có thể thảnh thơi sống trong tự do. May thay, Đức Giêsu phục sinh đã giải thoát con người khỏi sự kiềm tỏa của tội lỗi, để giao hòa giữa tình đất và tình trời, để nối lại tình trời và tình người, để con người có thể thanh thoát sống và ngụp lặn trong bầu trời của ân sủng. Qua đó, một lời mời gọi con người đi vào mối tương giao giữa đất và trời, giữa người với người vẫn ngân lên giữa lòng cuộc đời, hôm qua và hôm nay, và còn ngân mãi.
Những ai đã gặp được Đức Kitô phục sinh đều trở thành những sứ giả của niềm vui gặp gỡ này. Chẳng ai đã thực sự gặp được Đức Kitô phục sinh rồi mà vẫn còn thờ ơ với chính mình và với cuộc đời.
Hôm nay, Đức Kitô phục sinh vẫn ngỏ lời với từng người sống đời thánh hiến và với mọi người đi vào một cuộc tương giao với Ngài và với con người để tình người, tình trời được lớn mãi trong cuộc đời, và để hành trình của con người không trở nên đơn độc, lẻ loi giữa dòng đời tấp nập, vội vã, nhưng luôn rộn lên tiếng reo vui vì đã gặp được Đức Kitô phục làm biến đổi đời sống của mình.

Nguyên Minh

[1] x. Đức giáo hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Của Tin Mừng, số 1.

[2] Ibid., số 2.

[3] Bộ giáo luật, số 588 § 1.

[4] x. John L. Allen, Jr., Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, Hồ Ngọc Thảo dịch, (Hà Nội: Tôn Giáo, (2005) 2008), tr. 264.

[5] Lc 24,36; Ga 20,19; 20,21; 20,26.

[6] Ga 20,22.

[7] x. Lê Hoàng Nam, SJ., Niềm Vui Đời Dâng Hiến, Truy cập ngày 19/04/2018, tại https://dongten.net/2014/11/17/niem-vui-doi-dang-hien/.

[8] x. Jose Cristo Rey Garcia Paredes, CMF. Passion for Christ, Passion for Humanity, Trịnh Minh Trí, OFM dịch, (TPHCM: Tôn Giáo, 2016), tr. 1.

[9] x. Giuse Ngô quang Kiệt. Gặp Gỡ Đức Kitô Phục Sinh.

[10] Ga 12,32.

[11] Henri Nowen, sđd., tr. 33. Henri Nowen. Chén cuộc đời. Nguyễn Phúc Thuần dịch. Eymard.

[12] x. John L. Allen, Jr., sđd., tr. 200. John L. Allen, Jr.. Đức Giáo Hoàng BENEDICT XVI, Hồ Ngọc Thảo dịch, (Hà Nội: Tôn Giáo. (2005) 2008), tr. 200.

Advertisements
Posted in Uncategorized | Leave a comment

MAI LINH – Điểm hẹn của những tấm lòng


Có những con người, chỉ thoáng lướt qua trong đời, nhưng để lại những dấu ấn đẹp trong tim người khác.
Đó là nét đẹp của những con người mà hắn gặp gỡ trên bước đường sứ vụ, khi dám bước ra khỏi bản thân để có thể đi đến với những thân phận mang những thương đau của kiếp người. Đó là nét đẹp của sự cảm thông và chia sẻ để làm vơi đi những nỗi đau của số phận.
Những phận người, với muôn ngàn lý do khác nhau, đều hội tụ nơi đây, để có những ngày sống ý nghĩa cho đời mình. Nơi đây, có sự bình tâm, có những hối tiếc, nhưng cũng có cả những trăn trở và khắc khoải, và cũng từ nơi đây lại dấy lên những khát vọng của một đời người.

Sau những trải nghiệm mọi cung bậc thăng trầm của cuộc sống, tưởng chừng như tâm hồn đã hoàn toàn đóng băng, trái tim họ tưởng chứng như đã hoàn toàn nguội lạnh; Nhưng không, họ đã và đang thể hiện khát mong sống, dù chỉ là từng ngày, hay từng giờ; Và phải chăng, đó là cái đẹp làm sưởi ấm lòng người
Giữa muôn vàn cái đẹp người ta vẫn thấy đây đó trong dòng đời, có lẽ nét đẹp của lòng nhân ái là nét đẹp đáng được trân trọng và nâng niu hơn cả, bởi nó tô thắm thêm vẻ đẹp của tình người.
Và, nét đẹp của sự liên đới, yêu thương, san sẻ giữa những con người với nhau trong cuộc đời là nét đẹp bất biến, bởi đó là lúc người ta kéo khoảnh khắc vĩnh cửu về với hiện tại và làm cho khoảnh khắc hiện tại trở thành vĩnh cửu.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đi Du Hí

Ngày 16 tháng …..
Đêm đầu tiên đặt chân đến Đà Lạt sau hơn một năm. Cảm giác đầu tiên mạnh mẽ nhất là cái giá lạnh của đất trời xâm nhập toàn thân, dù ta đã chọn giải pháp tản bộ dọc theo đường lên dốc Trần Phú để cơ thể ấm lên, và lâu lắm rồi ta đã không đi bộ khi bước ra phố. Dọc hai bên đường, hàng loạt khối nhà cao tầng mọc lên san sát, nhưng như vẫn phảng phất đâu đó một nét cổ kính đầy thơ mộng. Một sự huyền bí đến lung linh ập đến khi những cơn gió rít qua những hàng thông ven đường. Ghé quán café nằm khuất trong hẻm cùng một cô gái Đà Lạt để thưởng thức chút hương vị café của xứ sở sương mù, cũng là nơi chôn giấu nhiều kỷ niệm thời niên thiếu đầy mộng mơ của cô gái ấy. Café Thạch Đằng thật yên tĩnh. Tiết trời về đêm phải nói là khá lạnh, nhưng ta vẫn cảm thấy ấm cúng đến lạ thường. Không biết lòng ta ấm lên vì hương vị café hay vì tình người?

Ngày 17 tháng ….
Thung lũng tình yêu, huyền diệu quá đỗi. Bình yên, thanh thoát, nhẹ nhàng là những cảm giác ta tìm lại được sau khi ngồi gần hết một buổi chiều giữa thung lũng, giữa đại ngàn, uống café và nghe nhạc Trịnh.
Buổi tối, đi dạo trên những con phố Đà Lạt, vẫn là những cơn gió mang theo hơi lạnh phả vào người. Nhịp sống của những người dân ở đây có vẻ như chậm hơn so với ở vùng đất Sài Thành. Từng dòng xe cộ cứ chầm chậm lưu thông trên những con phố. Dường như, ta có cảm tưởng rằng, họ đang sở hữu một điều gì đó quý giá nhất trong hiện tại, nên cứ chậm rãi thưởng thức và không muốn nó mất đi. Món bún riêu nóng hổi giữa tiết trời se lạnh ở Ấp Ánh Sáng thật ngon. Những làn hơi nóng bốc lên, hòa quyện với hơi sương của đất trời, xộc vào mũi, tạo thành một nét quyến rũ đến diệu kỳ, tuyệt quá!
Chợt thấy, hạnh phúc thật bình dị, nhưng quá đỗi mong manh!

Ngày 18 tháng …
Đà Lạt những ngày mùa thu, những cơn mưa bất chợt, không vần vũ, không sấm chớp, chợt đổ ào xuống như trút nước rồi tan nhanh.
Ta chẳng còn ở tuổi thần tiên để mong được đắm mình trong những làn mưa, mặc cho sau đó sẽ bị ba má trách mắng, thậm chí đánh đòn. Ta cũng không còn ở thời mơ mộng để gửi những điều ước vào trong mưa, nhưng dường như, một cảm giác lẻ loi vẫn xâm chiếm tâm hồn mỗi khi mưa đến, dù đó chỉ là một cơn mưa giữa mùa thu.
Tình cờ, thấy trong xóm có một sân bóng chuyền, niềm đam mê trỗi dậy, thế là nhảy vào tham gia cho đến khi ngửa tay lên, ánh sáng không còn đủ để nhìn thấy lòng bàn tay mới chịu ra về.
Thèm một buổi hoàng hôn Liangbiang. Có lẽ, qua giới thiệu, hoàng hôn Liangbiang là lý do để ta bằng mọi giá tìm đến Đà Lạt lần này.

Ngày 19 tháng …
Hôm nay, thật đặc biệt khi được làm quen với một “gia đình” tại Đà Lạt. Không những thế, ta còn được trò chuyện thật chân tình, cởi mở và ta như có cảm giác rằng, gia đình ấy cũng rất chân tình khi trò chuyện, trao đổi với ta. Dường như chẳng có khoảng cách hay sự e dè thường có ngay ở lần gặp gỡ đầu tiên. Có lẽ đối với ta, đó là một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của đời người, và nó sẽ trở thành bất tử, khi người ta biết vượt lên những khác biệt để làm ấm lên tình người. Và qua sự gặp gỡ, trò chuyện, sự đồng cảm giữa những con người với nhau lại được tỏa sáng, để con người sẽ cảm thấy bớt đi phần cô đơn nơi sâu thẳm của mình đang khi hoàn tất sứ mạng làm người.
Buổi chiều, những cơn mưa không quá lớn để ướt sủng bờ vai nhưng lại cũng không nhỏ để cảm thấy cái lạnh tê tái khi băng băng chạy xe trên đường.
Cuối cùng, ta cũng đã chạm chân đến được với Liangbiang, vốn đã từng hứa với lòng rằng ta sẽ ngồi bất động ở đó đến 4 tiếng đồng hồ, vậy mà, ta đã không thể thực hiện được rồi. Tiếc quá!
Buổi tối, tranh thủ thưởng thức món “bánh căng” vỉa hè, vốn được cho là nét riêng của Đà Lạt, trong khi ngoài kia, dòng xe cộ vẫn lưu thông không ngừng nghỉ.
Yêu mất thôi, Đà Lạt ơi! Dường như ta đã khá nặng tình với Đà Lạt?

Ngày 20 tháng …
Một ngày nắng vàng đẹp quá, nhưng người đẹp Đà Lạt lại tìm lý do để đi mất, dù đã hứa là sẽ làm hướng dẫn viên du lịch miễn phí cho đến khi … ta chán Đà Lạt!?
Nhưng làm sao ta chán nỗi trước sức quyến rũ của Đà Lạt. Thôi thì đành chấp nhận sự dang dở như những dang dở khác, bởi trong cuộc đời có cái nào hoàn hảo đến tuyệt đối đâu!
Đi dạo một mình dọc bờ hồ Hồ Xuân Hương, vẫn là tiết trời se lạnh với những cơn gió nhẹ phảng phất vào lòng người. Đi dạo chán, ngồi một mình bên bờ hồ HXH để thả hồn vào những áng mây lơ lửng trên bầu trời, bỗng thấy lòng thênh thang quá. Đến đây, một câu triết lý nhà Phật: “Nhẫn một chút sóng yên biển lặng, lùi một bước trời rộng thênh thang” bỗng như văng vẳng và có lẽ, lúc này ta mới nghiệm ra hết ý nghĩa của nó.
Nắng vàng, trời đẹp, thèm một hoàng hôn Liangbiang quá đỗi, nhưng hôm nay lại không muốn đi Liangbiang một mình. Đành phải nợ Liang biang một hoàng hôn khác…
Bỗng thấy nhớ buổi tối “đặc sản bánh căng” vội vã bên vỉa hè Phan Đình Phùng quá đi!
Dường như ta đã nặng nợ với Đà Lạt mất rồi!

Ngày 21 tháng …
Tạm biệt Đà Lạt, tạm biệt khung trời bình yên, tạm biệt những ngày hè nghỉ ngơi tại Đà Lạt, ta lại phải trở lại những ngày vội vã, xuôi ngược giữa đời thường.
Tạm biệt những con người Đà Lạt và cô gái Đà Lạt, tạm gác lại tất cả, để chỉ mang theo những kỷ niệm khi trở lại cuộc sống đời thường mà ta không thể quên.
Những thứ đó, như một phần hành trang không thể thiếu, ta sẽ mang theo trong cuộc đời.
Xin cám ơn tất cả!

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bông Giấy

4
Cuộc sống của cây bông giấy vốn dĩ không hoàn hảo, và phần lớn thời gian cây bông giấy sống trong điều kiện khắc nghiệt. Nhưng, hoàn cảnh chỉ là phép thử để cây bông giấy thể hiện giá trị của mình.
Để có thể nở ra những bông giấy tuơi đẹp, người ta để cho nó phải sống trong một thời gian dài không có sự tiếp xúc với nước để cây có thể quang hợp, và còn phải chịu sự cắt tỉa của người làm vườn.
Cây bông giấy có thể bỏ cuộc, hoặc chiến thắng sự khắc nghiệt này hay không lại phụ thuộc vào việc nó nhìn vào thực tại của bản thân bằng con mắt như thế nào.
Nếu chọn lựa thù hận, oán ghét người cắt tỉa, không tưới nước, thì người làm vườn sẽ không đau đớn mà chính cây bông giấy mới là kẻ bị tổn thương, và có nguy cơ chết héo rũ.
Vì thế, cây bông giấy luôn ghi nhớ là không hận thù người cắt tỉa, cũng chẳng ghen tị với những loài cây xung quanh, mặc cho những biến đổi vần xoay của số phận.
Nó chỉ biết phải luôn có một chút nhẫn nại, một chút nỗ lực và không bao giờ nản lòng trước những trớ trêu của cuộc đời.
Khi những điều khắc nghiệt ập đến, nó chỉ đơn giản đón nhận và biến đổi những trớ trêu đó thành những gì tinh tuý nhất để một ngày kia lại dâng tặng cho đời những bông hoa giấy tuyệt đẹp.
Nó luôn đau đáu một khát vọng nở hoa, để tô đẹp cuộc đời.
Nó cũng chẳng thế nghĩ được rằng, bản thân nó lại có thể toả sáng theo một cách không ngờ.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Chào PT

Vừa đặt chân vào đến ranh giới, PT đón mình bằng một trận mưa tầm tã. Mình có cảm tưởng như đó là trận mưa lớn nhất kể từ khi bắt đầu mùa mưa. Từng trận mưa nặng hạt cứ phả vào mặt, làm cho da mặt có cảm giác vừa căng rát, vừa che khuất tầm nhìn trên đường. Hai chiếc áo mưa mang theo, dù đã bọc gần như kín mít, vẫn cảm thấy như không đủ che hết được trận mưa này.
Con đường đất đỏ dẫn vào khu vực, mỗi khi có chiếc xe nào chạy qua vào mùa nắng, thì cả một vùng hai bên đường chẳng thể nhìn thấy nhau, không bởi khói sương mà vì bụi đất đỏ mịt mù. Những lớp bụi tung lên và cuốn theo chiều gió, bám vào những hàng cây hai bên đường. Những lớp còn lại, tạo thành một lớp bột mịn, khi gặp mưa lớn, thì trôi theo dòng nước, tạo thành dòng chảy mang theo phù sa. Vì thế, các con sông bắt nguồn từ vùng đất Tây Nguyên, luôn có màu đỏ au, đục ngàu.

Mùa mưa, con đường trở nên trơn trượt và sình lầy. Khi gặp phải trận mưa lớn, đoạn đường trở nên như chiếc võng, cứ đánh đưa “con ngựa sắt” mình, khi thì trượt sang mép bên này đường, khi thì sang tận mép bên kia. Và dẫu muốn biến thành chiếc võng, để cứ …đong đưa “con ngựa sắt” trên mặt đường, thì cũng chẳng ngăn cản được bước chân của kẻ đang ít nhiều bước đi trên những cung đường như thế này.
1

Những khuôn mặt hiền từ, những nụ cười hồn hậu, chất phác là những thứ mình bắt gặp khi trở lại sau một năm.

Những con người quanh năm lam lũ, gắn chặt đời mình vào những thửa đất, những hàng cây nông nghiệp, đã như một phần tất yếu của cuộc đời những con người nơi đây.

Những mảnh đời gắn liền với những thân phận quy tụ từ những vùng đất khác nhau, nhưng cùng chung nhau một nỗi khao khát, đó là con tim bình an.
Hơn 50 năm qua, họ vẫn trung thành, gắn bó với mảnh đất mà họ đã chọn như là quê hương thứ hai của đời họ.

Những con người đã kinh qua gian khổ, đã chứng kiến những tàn khốc của binh lửa, của chiến tranh thì hơn ai hết, chính họ rất khát khao cuộc sống yên bình. Có lẽ vì thế mà suốt bao nhiêu năm, họ ngày ngày chấp nhận yên phận với khoản thu nhập bấp bênh từ những thứ do chính công sức đổ xuống nương đồng.

Hơn 50 năm, thế hệ đầu tiên trong số những người đến lập nghiệp, đã có những người hoàn tất cuộc đời của mình và đã gửi lại thân xác ở lòng đất mẹ nơi quê hương thứ hai này.
Mình không biết được có bao nhiêu giọt mồ hôi của những con người nơi đây đã đổ xuống và hoà quyện vào vùng đất này. Mình cũng không biết được có bao nhiêu ước mơ đã được trải dài xuống dòng chảy cuộc đời, cụ thể nơi những con người đang sinh sống nơi đây.

Mình biết được một điều, là cho đến nay, họ vẫn phải vất vả, lam lũ để mưu sinh trên mảnh đất đã gắn bó hơn một nửa đời người của họ.

Hầu như họ hiểu nhau, biết rõ về nhau và chia sẻ cho nhau những vui buồn của nhịp sống thường ngày. Họ biết tường tận về nhau và tin tưởng nhau đến nỗi, ngay cả một bảng hiệu quảng cáo dịch vụ được viết bằng than củi, đã mờ nhạt theo năm tháng, người ta vẫn hiểu được nơi ấy cung cấp dịch vụ gì.
2

Không cầu kỳ trong cách sống, không vồn vã khi tiếp xúc, họ chỉ đơn giản mong muốn cuộc sống yên bình. Nếu một lữ khách dừng chân, sẽ cảm nhận được câu thơ của Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”.

Họ hy vọng thật nhiều, nhưng rồi niềm hy vọng vẫn cứ mãi xa vời với thực tại của họ. Và họ thất vọng, rồi lại đặt hy vọng và lại thất vọng. Khi thất vọng với mặt đất, thì chính là lúc họ ngước nhìn lên cao, để đặt niềm hy vọng vào một thực tại trên cao.
Phải chăng, “hướng nhìn lên cao” là nơi cuối cùng mà người ta có thể gửi gắm niềm tin của mình.
Phải chăng, việc hướng về thực tại trên cao để thấy được vẻ đẹp của đời sống, để thấy cuộc sống này thật đáng sống, và để thấy cuộc đời họ không đi vào ngõ cụt chính là động lực giúp họ có thể có sức mạnh để bước tiếp những bước chân trên hành trình sống kiếp người của mình.
Và phải chăng, đó là nét đẹp thân thương giữa những ngổn ngang của cuộc mưu sinh đầy trắc trở.

3

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đường Đi*

20151031_164350[1]

(Nhìn thấy mắt họ ánh lên niềm vui, mình cũng vui)

Nơi những bước chân đi qua trong đời sứ vụ, hắn đã từng đi trên những con đường, có gập ghềnh, có đá sỏi, và cũng có những con đường trải rộng thênh thang, nhưng khi đi trên cung đường dẫn đến với những con người đang sống ở nơi đây, hắn lại miên man suy nghĩ về những con đường và cảm thương về những phận người trong cuộc đời này quá đỗi.

Ai ai, dường như cũng đang phải loay hoay với những giải pháp để tìm lời giải đáp thoả đáng cho những “vấn nạn” về bài toán đời mình.

Họ kiếm tìm trong những lao nhọc.

Họ tất bật và vội vã với những lo toan.

Họ vất vả giữa những xuôi ngược trong dòng đời.

Họ tìm được, rồi lại vuột mất đi, ngay trước mắt họ.

Có đó rồi lại mất, chẳng có chi vững bền mãi mãi.

Trên tất cả, họ chỉ mong có được một cuộc đời hạnh phúc.

Và tất cả, họ đều cùng có chung một con tim kháo khát được bình an.

Nhưng, có lẽ, cách thức chọn lựa để sống đời bình an, hạnh phúc của từng người lại quá khác nhau, nên cuộc đời có muôn vàn mảnh đời khác nhau.

Đành rằng, chẳng ai có thể sống cuộc đời mình, và chắc cũng chẳng có được mấy người lựa chọn cuộc sống giùm người khác, nhưng những phận người ở nơi này vẫn gợi lên trong hắn một chút gì đó mênh mang.
Có thể nói về “số phận” hay “định mệnh” đau thương đã và đang ập xuống những mảnh đời này chăng?

Kinh nghiệm của hắn về những nẻo đường là kinh nghiệm của sự trầy trật, vấp ngã, nhưng vẫn luôn đứng dậy để đi tiếp và đôi mắt vẫn luôn hướng nhìn về phía trước.

Hắn chẳng thể biết được bao giờ thì con đường của hắn sẽ kết thúc, nghĩa là hắn chẳng thể dừng bước để yên nghỉ. Hắn chỉ biết được một điều là hắn chỉ được sống có một lần, phải hoàn thành cuộc đời hắn, phải dám lãnh trách nhiệm về hắn, và lãnh trách nhiệm về những hệ luỵ hắn đã làm nên, bởi chẳng ai có thể thay thế cuộc đời hắn. Và vì thế, mắt hắn luôn đau đáu nhìn về đích điểm đời hắn như mục tiêu tối hậu; tim hắn luôn nỗ lực mở lòng trước những thách đố, những sự kiện của cuộc sống thường ngày để có thể nghe được tiếng thì thầm của Thầy Giêsu. Đích điểm ấy chính là nguồn động lực và ý nghĩa cho hành trình đời hắn. Đích điểm ấy mời gọi hắn hiến dâng bản thân để trao tặng cho Thầy Giêsu, và chính lúc đó, hắn lại được đón nhận tình yêu nhưng không và sự tặng ban trọn vẹn là Thầy Giêsu.

Như thế, với hắn, chẳng thể gọi là quy luật ngẫu nhiên của “định mệnh” hay “số phận” của một đời người, mà là quy luật của sự chọn lựa đời mình, quy luật liên luỵ của cái trước với cái sau.

Mặc cho những vần xoay biến đổi, dòng chảy cuộc đời vẫn tấp nập. Chỉ có những chọn lựa của đời người mới có thể làm thành chính họ.
Ôi, những con người, những con đường!

Chợt thấy những vần điệu của R. Tagore, thật ấm.
Bạn có nghe tiếng chân Ngài (Chúa) vẫn bước
Từng phút giây, năm tháng, từng thời.
Ngày lại đêm, Ngài vẫn bước không ngơi
Tôi theo dõi và tôi lên tiếng hát
Trên lối nhỏ rừng sâu hè chói nắng,
Hay trong đêm u ám của mùa mưa,
Hay xe mây khi sấm dội bao la:
Tôi ca tụng bằng lời ca muôn điệu.
Sầu lại sầu dù bao nhiêu chồng chất,
Gót chân Ngài nhấn nặng xuống tim tôi;
Nhưng một khi vừa chạm tới kim hài,
Lòng tôi bỗng dào lên bao sinh thú.
Tia sáng đầu tiên hãy loé lên,
Gieo trong tôi niềm vui sướng rộn ràng.
Khi tia mắt (Ngài) dừng trên tôi âu yếm:
Xin cho tôi trở về ngay với Chúa
Lúc sáng về tôi trở lại với tôi
.”
(Rabindranath Tagore – Chắp tay cầu nguyện – Giataanjali)

 

 

* Cảm nghĩ nhân những lần đến bệnh viện Nhân Ái, Bình Phước.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

DUC IN ALTUM

561309_195672243880502_100003131836560_301311_1168100758_n

Thoáng chút đã một năm lướt qua. Sự lướt qua của thời gian nhanh đến mức hắn chẳng thể ngờ tới được.
Tuy vậy, khi ngoảnh lại, hắn vẫn thấy mình mạnh khoẻ, vẫn đứng thẳng và mỉm cười với cuộc đời, với con người, và vẫn yêu cuộc đời này quá đỗi. Đó chính là tâm tình thôi thúc hắn phải cất lên lời tạ ơn trời, cám ơn đời và tri ân người.
Đứng trước ngưỡng cửa của năm mới đang đến, một năm mới đã khép lại tất cả niềm vui cũng như đau buồn trong công việc, hân hoan cũng như phiền muộn của nhân gian, và đang mở ra trước mắt hắn những vận hội cũng như thử thách phía trước.
Nhìn về quá khứ, cũng như bao cá thể khác, hắn được quẳng vào thế giới và chẳng có gì có thể làm thoả mãn khát vọng thâm sâu nơi tâm hồn hắn, và cũng chẳng có gì có thể bảo đảm cho vận mệnh đời hắn. Tất cả mọi người, ai ai rồi cũng phải sống cuộc đời của họ. Chẳng ai có thể sống giùm cuộc đời của hắn. Tiền bạc, địa vị, danh vọng… tất cả rồi cũng lùi vào quá khứ như chính khoảng thời gian ngắn ngủi đã qua của hắn. Vì thế, hắn vẫn mải miết đi tìm câu trả lời cho những khắc khoải, ưu tư của đời hắn.
Nhìn vào hiện tại, cũng như bao sinh vật khác trên trần gian này là được dựng nên vì chính hắn và chỉ có thể tìm lại được chính mình khi thành thật hiến dâng (x. Gaudium et Spes 24), hắn được trao quyền đồng kiến tạo thế giới với lời hứa được ở cùng (x. Mt 28, 20). Hắn có niềm vui song hành trong những bước chân. Và có lẽ, dấn thân cho môt lý tưởng đã được ấp ủ trong niềm vui được đồng hành chính là chìa khoá cho cuộc đời của hắn.
Nhìn về tương lai, cũng như những người khác trên hành trình cuộc đời, hắn được trao ban niềm hy vọng, một niềm hy vọng đáng tin cậy, đến nỗi có thể đối diện với thực tại và chấp nhận được vì nó dẫn đến mục đích tối hậu đến mức biện minh được cho nỗ lực cam go của cuộc hành trình đời hắn (x. Thông điệp Spe Salvi). Niềm hy vọng vào thực tại tương lai nhắc nhở hắn không để cho gánh nặng quá khứ đè xuống hiện tại, và kéo ngược tương lai của hắn vào quá khứ. Niềm hy vọng đó thôi thúc hắn cuộn tròn quá khứ lại và vác lên vai, bằng một hứng khởi của trẻ thơ, để đi vào tương lai đời hắn như một cuộc chơi, để sáng tạo đời hắn với tất cả sự hồn nhiên, với tất cả niềm hào hứng của kẻ lần đầu tiên bước vào cuộc chơi.

“Hãy ra chỗ nước sâu” (Lc 4,5) chính là lệnh truyền từ Thầy Giêsu vị Thầy chí Thánh, cũng là mẫu gương hắn bước theo.
Ra chỗ nước sâu để đắm mình trong đại dương mênh mông của biển đời.
Ra chỗ nước sâu để thử sức với những vận hội và thử thách.
Ra chỗ nước sâu để có thể thử sức với những cơn sóng dữ có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Vì thế, hắn mạnh dạn và thanh thản bước tiếp những bước đi.
Nếu mục tiêu tối hậu và ý nghĩa của đời hắn là tìm gặp và sống với Jesus như là đích điểm của đời người, thì việc khép lại một năm cũ mà vẫn còn ngân lên trong tâm hồn hắn một thao thức dấn thân, và việc mở ra một năm mới cũng đồng nghĩa với việc “xắn tay áo” để thực hiện những dang dở trong hành trình đời hắn làm hắn thêm vui.
Chẳng ai đã thực sự gặp được Jesus rồi mà vẫn còn thờ ơ với chính mình và với cuộc đời.

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment